Hiển thị các bài đăng có nhãn Cuộc sống muôn màu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cuộc sống muôn màu. Hiển thị tất cả bài đăng

12/6/16

Tin mừng: Chúc Thọ cô Bình Định


Ngày 21/6/2016, cô Bình Định, người Mẹ của TTST BND vừa chẵn 90 tuổi (dương lịch).

Cô có gửi lời mời các con TTST BND đến dự bữa vui liên hoan vào 18h ngày 18/6/2016 (thứ Bảy) ở 278 Võ Thị Sáu, Quận 3 TP. HCM !

Vậy thay mặt TTST BND xin thông báo các bạn, ai có điều kiện tham gia thì xin báo trước cho Trịnh Bình Thao để lên danh sách.

_____


Dưới đây là bài thơ Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Trịnh Hải gửi qua trang thông tin của các cháu TTST BND:

MỪNG CHỊ BÌNH ĐỊNH TUỔI 90

Ngày 18 tháng 06 năm 2016

Đời người ai cũng mong sống thọ
Một trăm năm đâu phỏng có là bao
Cụ Đỗ Phủ cho bảy chục tuổi đã là nhiều
Ngày nay ta không lấy mốc theo thơ cũ

So với xưa, đời sống nay nhiều phần đầy đủ
Có thiếu chăng là đâu đó thiếu tình người
Chị nay đã bước sang tuổi Chín mươi
Qua bao sóng gió vẫn luôn tươi nét mặt

Óc còn minh mẫn, chân còn đi lại được.
Cái sướng nhất của chị ai cũng ước mong
Cháu con có chí tạo nghiệp thành công
Thảy đều cùng biết giữ gìn đạo hiếu

Một cái sướng nữa mà chị không thiếu
Là bạn bè cùng cảm thông thấu hiểu tự nhiên
Mọi người cư xử với nhau như chị như em
Tình cảm đó không phải có tiền nó đến

Chị được bè bạn khắp mọi miền quý mến
Còn một đàn con đi sơ tán thời chiến ở vùng quê
Năm nào giữa Hà Nội cũng mong mẹ Định lại về
Cùng ôn lại những kỷ niệm tràn trề vui vẻ

Người ta khi còn sống trên trần thế
Hạnh phúc này đâu dễ có ai hơn.
MONG CHỊ KHỎE, SỐNG TẠM THÊM CHỤC NĂM TRÒN
MẶC TRỜI MỎI MỒM MỜI, MÌNH CỨ DỬNG DƯNG: TÔI CÒN ĐANG BẬN.

Ngày vui tổ chức tưng bừng
Mấy lời thay chén rượu mừng chị tôi.

Trịnh Hải và Phạm Thúy Hà
(Hà Nội)

9/12/13

Thác Bà Điên


TTST BND: Mời bạn thưởng thức một thể nghiệm của Vũ, gửi về hồi đầu tháng 11 mà vì vướng việc nên mình chưa kịp đưa lên ngay!





09/11/2013 7:39 CH, Vũ Tuấn Hoàng: Người ở trong nước thì nhớ nước Nga, người ở nước Nga thì nhớ về trong nước. Đời là thế đấy!


Thác Bà Điên

Truyện ngắn

Tên địa danh bất thường này gợi nên bao thắc mắc và suy tư của du khách khi ngỡ ngàng đứng trước khung cảnh hùng vĩ và nên thơ của dòng thác nước tung bọt trắng xóa, réo ầm ầm đổ từ trên sườn núi xuống. Âm vang của nó dội vào vách đá lởm chởm, lan tỏa ra khắp các vùng lân cận như một bản giao hưởng bất tử của rừng đại ngàn trùng điệp.

Chính quyền địa phương muốn đổi cái tên nghe rất quái gở này, nhưng tên mới chỉ tồn tại được trên văn bản giấy tờ, còn trong lòng người dân, thác “Bà Điên” vẫn đeo bám dai dẳng như một nỗi ám ảnh định mệnh khôn nguôi, như đã thấm vào đất, quyện vào khí trời, cỏ cây của vùng bán sơn địa vốn dĩ cũng chứa đựng trong lòng nhiều huyền thoại đau thương và bi hùng.

Trận mưa lũ quét bất chợt trên thượng nguồn khiến chúng tôi mất đường quay trở ra quốc lộ chính. Buổi sáng, con suối hiền lành róc rách chảy không hề báo trước điều gì bất thường, nay bỗng chốc biến thành một dòng sông dữ tợn, chảy xiết, cuồn cuộn ôm theo củi rác, mái nhà, xác súc vật, cả những cây gỗ lớn mà trên đó đám thú rừng may mắn sống sót ướt lướt thướt bám theo. Con nào con nấy ánh mắt tràn đầy nỗi khiếp đảm sợ hãi. Chúng nép sát vào nhau, kể cả những con thú dữ như hổ báo, trong lúc bình thường làm sao có thể cùng ôm chung một cây gỗ với đám lợn rừng hay cầy, chồn, chó mèo, gà, cóc nhái... Tai họa thiên nhiên giáng xuống khiến cho các loài vật xích lại gần nhau để tìm chỗ nương tựa. Điều này giúp lý giải tại sao chúng tôi lại nhanh chóng tìm được nơi trú để tránh cơn mưa nguồn đang lù lù kéo tới, hứa hẹn cả đêm sẽ phải ngủ dưới tiếng mưa rơi xối xả, trong một chiếc nhà gỗ vững chắc và ấm cúng của người kiểm lâm, cách thác không xa. Thoạt tiên, ngỡ đây là lán của người gác rừng, nhưng sau gần một tiếng trò chuyện thân tình, ăn các đồ ăn chúng tôi mang theo bên đống lửa được đốt lên ở chính giữa ngôi nhà, mới vỡ lẽ: ông chủ là một người mà từ khi còn trẻ đã rời bỏ gia đình ở dưới xuôi để lên đây theo đuổi một mục đích duy nhất của đời mình: Đi tìm vàng! Song, cứ đoán theo hình thức bên ngoài của gia chủ và mọi đồ vật dụng trong ngôi nhà này thì chắc hẳn cái mục đích mà ông đặt ra cho cuộc đời vẫn còn ở đâu đó rất xa. Nhưng có một điều mà cả ba chúng tôi đều cảm nhận thấy là ý chí tìm kiếm không hề cạn kiệt toát ra qua ánh mắt sáng quắc, tinh anh và giọng nói sang sảng của ông.

- Sống một thân một mình đơn độc giữa rừng sâu mà ông không sợ hay sao? Tôi đỡ chén trà nóng từ tay ông già và bạo dạn cất tiếng hỏi.

- Hồi trước, có rất nhiều người tới đây tìm vàng, lều lán mọc lên như nấm sau cơn mưa, nhưng rồi tất cả dần dần nản lòng, bỏ cuộc hoặc bỏ mạng vì bệnh tật hay đâm chém nhau… mà cứ ngẫm kỹ ra, con người ta vừa mới sinh ra ở đời đã bị tuyên án tử hình rồi, vấn đề là khi nào thi hành án thôi – Ông vừa nói vừa bỏ thêm khúc củi vào lửa - Bởi vậy, dù sống trong rừng có thú dữ, rắn rết độc, hay sống giữa thành phố đầy đủ tiên nghi thì nguy cơ đối mặt với cái chết là như nhau. Tôi đã từng tham gia chiến đấu bảo vệ thành Quảng Trị 1972, xung quanh đồng đội trúng đạn chết và bị thương la liệt, nhưng tôi không hề bị xây xước dù một vết nhỏ… - Nói đến đây, giọng ông bỗng trở nên chùng hẳn xuống và mãi một lúc lâu mới thốt ra được tiếp mấy lời, mà không hiểu là nói với chúng tôi hay nói với chính bản thân mình - Nhưng… lại bị trúng thương ở hậu phương… à mà thôi, chuyện cũ đã qua rồi, tất cả đã là dĩ vãng… Nào, bây giờ xin mời các bạn trẻ thử món rượu tôi tự cất lấy từ ngô nương nhé!

Thác Đambri, Lâm Đồng (ảnh minh họa)
Cả ba chúng tôi đều trở nên háo hức và cảm thấy chuyến đi chơi cuối tuần của mình tưởng bị cơn mưa nguồn bất chợt làm hỏng, nhưng lại được đền bù bởi cuộc gặp gỡ thú vị với ông già bí ẩn, mà sau này, mỗi khi nhớ lại, chúng tôi đều không khỏi nén một tiếng thở dài và tự hỏi: Lẽ nào, trên đời lại có những con người mang trong mình một số phận éo le đến như vậy? Thế ra, hàng ngày chúng ta gặp bao con người trên đường phố, trên ôtô buýt, trong cửa hàng, quán café… mà số phận của họ chúng ta đâu có hay biết gì. Chúng ta đi ngang qua nhau vô tình như đi qua gốc cây hay chiếc ghế đá. Và, chỉ nhờ một sự tình cờ ngẫu nhiên nào đó, cánh cửa đời tư của con người tồn tại bên cạnh chúng ta mới bất chợt hé mở, để lộ ra những ngóc ngách sâu thẳm khôn lường.

Phần vì mệt do đi đường, phần vì rượu thơm ngon nên hơi quá chén, cả ba chúng tôi lăn ra ngủ ngay trên chiếc chiếu đan bằng loại cói thô đã ngả sang màu nâu xỉn ở góc nhà. Lúc quá nửa đêm, tôi chợt thức giấc vì mấy giọt nước mưa lạnh thấm qua mái lợp rơi xuống trúng mặt. Tôi khẽ mở mắt ra và lặng người đi, trong bụng nhủ thầm “Mình mà có tài điêu khắc thì chắc chắn đây sẽ là một bức tượng không tồi”. Ngọn lửa nhún nhảy bập bùng hắt ánh sáng lên ông già cởi trần, người đỏ rực như một pho tượng đồng thau ngồi xếp bằng chữ ngũ. Cơ bắp trên bả vai và hai cánh tay đã săn lại chằng chịt các đường mạch máu nhưng vẫn gân guốc và tiềm ẩn sức mạnh. Các nếp nhăn trên mặt, nhất là trên trán như những vết dao chém, hằn sâu và khắc khổ. Hai má hóp lại khiến đôi lưỡng quyền nhô ra. Ánh mắt ông chăm chú nhìn ngọn lửa. Thỉnh thoảng, ông lại quay sang âu yếm vuốt ve con chó săn đen tuyền, lưỡi có đốm, giống chó Lài Bắc Hà, người bạn trung thành duy nhất đang nằm phủ phục, ghếch chiếc mõm dầy, to và ươn ướt lên đùi ông. Đôi mắt mang màu sắc hoang dã của loài cầm thú cũng trở nên mơ màng ưu tư trước ánh lửa bập bùng. Hai tai dài và nhọn của nó dựng đứng lên cứ xoay đi xoay lại rất cảnh giác, hướng theo những âm thanh khác nhau từ ngoài rừng vọng vào. Tôi nhớ lại câu chuyện hồi chiều của ông kể về con chó lai giữa chó nhà và chó sói này với vẻ tự hào chẳng khác gì nói về một người bạn chí cốt rất mực thủy chung, vị cứu tinh của đời mình: “Con chó thông minh lắm. Chỉ cần nhìn là nó hiểu mình muốn gì. Đây là giống chó săn cực quý, khôn ngoan và dữ dằn. Nó là người lính gác vô cùng tin cẩn, sẵn sàng xả thân để bảo vệ chủ. Theo như người Nùng ở đây vẫn nói, nếu ai sở hữu một chú chó Lài, thì coi như quanh năm suốt tháng no đủ, không sợ đói. Xách súng vào rừng, nếu có chó Lài dẫn đường, thì kiểu gì cũng thu được chiến lợi phẩm. Nó sẽ tìm dấu vết thú, lùa thú vào trước họng súng cho chủ bắn. Giống chó này là sát thủ của rắn độc, sự dũng mãnh của nó khiến rắn độc sợ hãi co mình nằm im – Kể đến đây ông già chỉ vào bộ da rắn khổng lồ treo dọc chiếc cột trụ to duy nhất của căn nhà – Đây là con rắn đã thành tinh, là “quái thú” của rừng già. Vùng đất này núi cao rừng thẳm thú dữ khá nhiều. Tuy nhiên, cánh rừng giáp với thác nước này chẳng có bóng dáng loài thú dữ nào, ngoài con quái thú khổng lồ mà chưa ai được mục kích tận mắt. Dân đào vàng mỗi năm chỉ tình cờ bắt gặp một bộ da rắn lột dài bằng mấy lần đòn gánh, to bằng thân cây chuối rừng. Thế rồi một hôm, trời đã nhá nhem tối, tôi từ bãi đào vàng trở về lều. Gần đến nơi thì bỗng con chó Lài phóng vụt lên trước và sủa loạn xạ. Trong tiếng sủa của nó có điều gì đó kinh hoàng, khẩn cấp. Tôi vội cảnh giác, hạ khẩu súng săn xuống khỏi vai và lên đạn. Hướng theo tiếng sủa của chó, ánh đèn pin chưa kịp bật lên, tôi đã phát hiện ra hai đốm lửa đỏ lự ngay ở cửa lều. Chúng đung đưa đánh võng trong bóng tối. Tôi bỗng lạnh hết sống lưng khi nghe thấy tiếng gió rít rất lạ và mùi tanh nồng phả vào mũi. Tôi hiểu mình đang đối mặt với ai ? Hai chân ríu lại, không bước nổi nữa chứ đừng nói đến chuyện bỏ chạy. Nó chỉ mổ một nhát thì coi như cầm chắc cái chết. Chính lúc đó, con chó Lài xông lên, gầm gừ hung dữ đe dọa đối thủ khiến cho hai đốm lửa đỏ lự đó đứng im bất động. Và, viên đạn may mắn từ nòng súng của tôi khạc ra đã trúng giữa hai đốm sáng như hai con mắt của tử thần. Cái lỗ thủng do đạn phá to bằng bàn tay trên cánh cửa kia, tôi vẫn giữ nguyên không sửa lại để làm kỷ niệm về một khoảnh khắc không thể quên trong đời”.

Tẩu thuốc lá làm từ gốc cây ớt , vỏ xù sì, cứ lập lòe đỏ trong lòng bàn tay to thô và dị dạng của ông vì bao năm cầm xẻng đào bới đất cát. Những sợi khói trắng lởn vởn, thong thả vẽ lên trong không trung những hình thù kỳ dị đầy biến ảo.

Tôi đặt tên cho bức tượng tạc vội trong đầu đó là: Cô Đơn.

Có cảm giác rằng, nỗi cô đơn của ông già đã lan truyền sang cả con chó bên cạnh, thậm chí thấm cả vào các đồ vật xung quanh: một chiếc ba lô lính bạc phếch treo trên bức vách sau lưng, một chiếc bi đông quân dụng bị móp, một cái xẻng công binh, một cây súng săn báng gỗ kiểu Nga và cuối cùng là một cây đàn ghi ta đứt dây cũ kỹ, tróc hết lớp vecni… Đến tận bây giờ, tôi mới chợt nhận ra phía trên cao của vách nhà có treo bức ký họa chân dung một người phụ nữ, lồng trong khung bằng bốn ống trúc mà từ chỗ tôi nằm chỉ nhìn thấy lờ mờ. Ở góc bên phải có gắn một dải băng đen nho nhỏ.

- Ông vẫn chưa ngủ ạ? Tôi ngồi xuống bên cạnh đống lửa, khẽ cất giọng hỏi – Mưa đã tạnh, tiếng thác nước nghe rõ quá ông nhỉ, và hình như bên ngoài còn có trăng sáng thì phải?

- Cháu có ngửi thấy mùi hương lạ không? Ông già nhồi thêm thuốc vào tẩu, cất tiếng hỏi khẽ.

Đến lúc đó, khứu giác chậm hiểu của tôi mới cảm nhận thấy một mùi hương thơm thoang thoảng, tinh khiết lảng vảng đâu đó trong không gian, xen kẽ với các mùi khác như mùi gỗ cháy, mùi ẩm ướt của thảo mộc sau cơn mưa, hòa quyện với bản nhạc của muôn vàn tiếng tỉ tê của thế giới côn trùng.

- Đám cầy hương đi kiếm ăn đêm trên đỉnh thác. Chúng rất thích ăn một loại rễ cây hoa Dĩ Vãng mọc ở các khe đá dọc hai bên thác nước.

- Tên hoa nghe lạ quá, lần đầu tiên cháu được nghe. À, mà ông ở đây đã lâu chắc phải biết tại sao thác nước này gọi là thác “Bà Điên” chứ ạ?

Thật không ngờ, câu hỏi vô tình của tôi khiến thái độ ông già đột ngột thay đổi hẳn. Một tiếng thở dài bật ra khỏi lồng ngực xương xẩu nhưng rắn chắc của ông.

Ông ngước nhìn lên bức ký họa treo trên vách và im lặng không nói gì.

Một người bạn của tôi ú ớ nói lảm nhảm trong giấc mơ.

- Bác cháu mình ra ngoài thác ngắm trăng đi! Ông bất ngờ đề nghị - Ở thành phố làm sao được mục sở thị một khung cảnh huyền ảo như lúc này!

Tôi định bước lại đánh thức hai người bạn, song ông già đã đặt bàn tay nặng trịch lên vai tôi, nói:

- Cứ để cho hai cậu ấy ngủ ngon, ba chúng ta đi là đủ rồi!

Chú chó Lài cao lớn là người đầu tiên nhanh nhẹn dùng mõm đẩy chốt cửa bước ra ngoài.

* * *

Tôi đã không ít lần trải qua những cảm giác lặng đi đến sững sờ vì xúc động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, nước mắt trào ra trên bờ mi vì cảm giác hạnh phúc được sống, được cảm nhận qua tất cả các giác quan Cái Đẹp tuyệt đối của tạo hóa. Đó là bình minh đang lên trên mặt hồ Baican ở Xibiri, những khu rừng phong mùa thu đổ sắc vàng rực rỡ của miền Trung nước Nga, ánh hoàng hôn lai láng trên mặt sông Seine ở Paris, hay những thảm cỏ xanh mướt hút tầm mắt trải song song với bầu trời trong vắt cũng xanh ngăn ngắn ở Hà Lan. Đó là những đêm trăng khắc khoải trên bờ biển Crưm vang động tiếng sóng ầm ì vỗ vào kè đá, hay chứng kiến hàng ngàn cánh chim hải âu trắng muốt bay rợp trời trong công viên Thúy Hồ ở Côn Minh…

Cảm giác sững sờ đó đột ngột quay trở lại xâm chiếm tâm hồn khi chúng tôi dừng bước đứng trên một phiến đá lớn ở đỉnh thác nước. Từ đây mở ra một bức tranh huyền ảo, hư hư thực thực với hai gam màu chủ đạo: trắng và đen. Các vòm lá cây sau cơn mưa phản chiếu ánh trăng lấp loáng màu bạc trải dài xa tít tắp, cứ như thể vầng trăng kia đã vỡ vụn ra thành hàng ngàn vạn mảnh nhỏ rải xuống cánh rừng vậy. Nếu bịt tai lại, cảm giác phía dưới chân mình là một dòng sương mù dày đặc đang bồng bềnh uốn lượn trôi mãi về dưới xuôi…

- Cháu có nghe thấy tiếng hát không? Ông già đột ngột hỏi, đầu ngẩng cao, hai mắt lim dim nhìn xa xăm về phía trước mặt.

- Dạ…dạ... cháu không nghe thấy gì cả. Hay vì tiếng thác nước át đi?

- Không, tiếng hát rất rõ, bao năm rồi mà giọng bà ấy vẫn không thay đổi, đúng là chất giọng của người con gái đất quan họ…

Trong một khoảnh khắc, tôi chợt cảm thấy hình như ông già có cái gì đó khác thường. Hoặc giả, sống trong rừng núi lâu ông đã luyện được thính giác nhạy bén hơn người ? Tôi thử tĩnh tâm lại một lần nữa và căng tai lên nghe… nhưng tuyệt nhiên không phát hiện ra bất kỳ một âm thanh lạ nào khác, ngoài tiếng nước xối xả. Thỉnh thoảng, có tiếng chim ăn đêm vỗ cánh trong không trung. Và, nếu chú ý lắng nghe kỹ hơn nữa, có tiếng gió vi vu trong bụi trúc ở đâu đó gần đây mà thôi.

- Cũng trong một đêm sáng trăng như thế này, bà ấy đã nhảy xuống trầm mình trong dòng nước tinh khiết kia! Ông già quay sang nói với tôi bằng một giọng run run xúc động.

- Bà nào ạ? Tôi ngớ người ra hỏi lại, nhưng ngay lập tức chợt hiểu ra ý ông già muốn nhắc tới ai - Chính vì thế người ta mới gọi đây là thác Bà Điên phải không ông? Chỉ có người không bình thường mới hành động như vậy.

Tôi vừa nói, nhưng trong đầu đã phỏng đoán người phụ nữ điên này chắc phải có liên quan gì đấy với ông già. Bức ký họa trên vách và cuộc sống đơn độc ở gần thác nước này của ông bao năm trời đã khiến tôi lờ mờ cảm nhận được số phận của người đàn ông bí ẩn đang ngồi cách tôi nửa tầm tay với. Phải chăng là hệ lụy của mối tình lâm ly bi sầu như trong tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn?

- Giá mà không có chiến tranh thì thác nước này cũng không mang cái tên oan nghiệt đó… Cháu ngồi xuống đi, ngồi sát vào mé này này, không bụi nước bay lên chỉ một lúc nữa là cháu ướt hết và lạnh cóng… Có vùng nào trên đất nước chúng ta mà không mang dấu ấn đau thương của chiến tranh đâu cháu?

Ông già trầm ngâm một lúc, rồi cất giọng bắt đầu câu chuyện.

Tôi có cảm giác rằng, ông không phải kể cho tôi nghe mà kể cho chính dòng thác đầu nguồn này, để câu chuyện của ông, lời nói của ông nương theo dòng nước chảy xiết trôi về dưới xuôi, hòa nhập vào trăm ngàn các dòng sông lớn nhỏ, tan vào phù sa bồi đắp nên nhưng cánh đồng lúa xanh mơn mởn, rồi cuối cùng trôi ra biển cả mênh mang vô định…

* * *

Chiếc xe tải quân sự lầm bụi đường trường đỏ quạch phanh khựng lại bên cạnh chiếc giếng đào ngay sát con đường đất sống trâu dẫn về phía Làng. Một anh bộ đội trẻ măng, tóc cắt cua, da ngăm ngăm đen, nhảy từ cabin xuống, đỡ theo tay chiếc ba lô vẫn còn mới. Cửa xe đóng sập lại và tiếng động cơ rú lên át đi những lời cảm ơn và chào từ biệt. Anh đứng im một lúc nhìn theo đám bụi bốc mù lên phía sau chiếc xe tải đang xa dần, rồi khuất hẳn sau rặng cây nhãn chạy dài theo bờ sông. Tiếng động cơ lịm hẳn, khiến cho không gian xung quanh trở nên im ắng lạ thường. Dường như chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng lâu lắm rồi. Bầu trời trên cao lác đác mấy gợn mây trắng lất phất, gió từ phía cánh đồng thổi tới thoang thoảng mùi bùn, mùi thơm thơm của hương lúa non, khiến chàng thanh niên lặng người đi và sống mũi cay cay. Một cảm giác sung sướng khôn tả, chỉ có được khi con người ta vừa từ một nơi kề cận cái chết trở về, vỡ òa trong anh và bất ngờ thoát ra thành một tiếng kêu hân hoan vang động:

- Mẹ... ơi... ơi, con đã về rồi đây!

Thật chẳng khác gì một con trâu tơ lồng lên trên những luống cày đầu tiên, không kìm được lòng mình, anh co cẳng chạy trên con đường mòn trên mặt đê, con đường mà cả tuổi thơ đói nghèo và côi cút của anh đã gắn bó. Dù có bịt mắt cũng có thể tìm được lối về nhà qua mùi vị của cây cỏ, mương rãnh hai bên đường. Mấy chú chim sẻ đậu ở trên ngọn cây gần đó giật mình bay vù lên. Chạy gần đến một đống rơm to, anh dừng lại, ngoái nhìn xung quanh như sợ ai trông thấy, rồi rút từ trong túi áo ngực ra tấm huy chương màu đỏ còn mới toanh đeo ngay ngắn vào ngực áo. Anh muốn giành cho mẹ một điều bất ngờ, muốn mẹ thật sự hạnh phúc, sung sướng và tự hào vì anh. Mẹ xứng đáng được như vậy vì cuộc đời mẹ đã quá nhiều đau khổ, mất mát. Nạn đói năm 1945 đã cướp đi tất cả những người thân thích. Mẹ sống sót được chỉ nhờ vào bản năng sinh tồn cứu giúp. Cô bé mười tuổi chỉ còn da bọc xương là mẹ lúc đó, ngày nào cũng chạy theo mấy con ngựa của đám lính Nhật đóng trong làng để hốt phân về đãi lấy những hạt ngô chưa bị tiêu hóa để ăn. Rồi nạn đói qua đi, cô đi làm thuê làm mướn khắp nơi và nhờ có một giọng hát quan họ truyền cảm, một vẻ ngoài nết na chăm chỉ nên được một gia đình địa chủ nhận làm con nuôi để lấy may. Nhưng rồi, cải cách ruộng đất ập tới, cả gia đình ông chủ bị đấu tố và bị giết. Mẹ anh đã cùng người con trai út của gia đình, bỏ trốn vào Hà Tĩnh, dạt đến cái làng này, cải tên đổi họ bắt đầu một cuộc sống mới. Anh sinh ra không biết mặt bố. Mẹ kể rằng ông hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tham gia vào đội vận tải lương thực chi viện chiến trường và trong một đêm mưa bão, đường trơn, đã bị trượt chân ngã xuống vực cùng với chiếc xe đạp thồ chở đầy gạo. Mẹ con anh sống côi cút nuôi nhau. Anh lớn lên là nhờ con tôm con cá của dòng sông quê, nhờ con cua con ốc dưới mương rạch trong làng. Mẹ anh mang ra chợ bán để mua gạo, quần áo, dầu đèn… Nhiều đêm, hai mẹ con ngồi im lặng bên cạnh chiếc đèn hoa kỳ vàng vọt, người cặm cụi khâu vá lại những chiếc áo cũ bạc phếch vì nắng gió, người cố gắng mở to mắt chống lại cơn buồn ngủ để đánh vần những bài tập đọc về lòng yêu Tổ quốc. Từ nhà bên hàng xóm, vọng sang tiếng cãi chửi nhau của vợ chồng anh thương binh cụt chân vì mìn trong trận đánh cuối cùng bắt sống tướng Đơcat trên cứ điểm đồi A1 và tiếng khóc lu loa đòi ăn của bầy con nhỏ. Nhưng cũng có những đêm vui, mẹ anh khe khẽ cất tiếng hát, những giai điệu quan họ của một thời con gái. Rồi một hôm, hai mẹ con đang rửa lại mớ cá anh vừa bắt về ở cầu ao cạnh nhà, thì một đơn vị bộ đội chủ lực hành quân qua. Nhìn những bộ quân phục mới toanh, những gương mặt trẻ trung cười rạng rỡ, những câu đùa tếu vọng đến tai, trong đầu anh bỗng nảy một ý nghĩ: “tình nguyện đi bộ đội, đây là con đường duy nhất thoát khỏi cảnh đói ăn, chạy bữa từng ngày”. Khi đoàn chiến binh đã đi khuất hẳn, anh ném cái nơm tre xuống mặt nước ao bèo và buông ra một câu chắc nịch:

- Con cũng sẽ đi bộ đội!

- Sao? Mẹ anh hoảng hốt hỏi lại – Mẹ chỉ có mình con trên đời này thôi đấy, mà con đã đến tuổi nhập ngũ đâu?...

Bóng hai mẹ con rung rinh in trên mặt nước ao gợn sóng. Đó là bức ảnh duy nhất hai người “chụp” chung nhau trên cõi đời.

Càng chạy gần về tới nhà, anh càng guồng chân nhanh hơn trên con đường đất vương đầy rơm rạ và phân trâu bò, lòng thấy nóng ruột, không biết mẹ đang làm gì, có ốm đau không? Anh hình dung ra niềm vui sướng trên khuôn mặt vẫn còn nhan sắc của mẹ, những giọt nước mắt tủi thân vì phải vò võ mong đợi. Chắc mẹ đang khâu vá hoặc băm bèo nấu cám lợn… Mấy gói lương khô, đồ hộp, thuốc đánh răng, xà phòng và cả một chiếc khăn bông hoa to làm quà cho mẹ kêu lục cục theo nhịp bước chân chạy trong ba lô đằng sau lưng. Anh bỗng nhớ đến cái mùi thơm riêng biệt của mẹ mà từ khi còn bé anh đã bị “nghiện”. Chính trong những giờ khắc im tiếng súng giữa các trận đánh, điều mà anh ao ước nhất là được sà vào lòng mẹ như hồi còn nhỏ để được hít thật sâu vào lồng ngực mùi thơm của mẹ. Có lẽ, đó là mùi hương thơm nhất trong tất cả các mùi hương trên trái đất, kết tinh từ các loài hoa và trái cây trong vườn nhà… Kia rồi, mái nhà tranh vách đất đã thấp thoáng sau tán lá. Hồi hộp quá khiến trái tim cứ chỉ chực đạp lồng ngực chui ra. Anh dừng lại để thở và lấy bình tĩnh. Muốn làm mẹ bất ngờ, anh nảy ra ý định không đi vào cổng chính mà đi vòng ra phía sau nhà. Anh nhẹ nhàng nhảy qua hàng rào dâm bụt thấp lè tè, rồi rón rén bước vào cửa hậu. Từ đây có thể nhìn thẳng vào trong sân và thấy mấy đống khoai sắn thái khô đang được đánh đống, một cái cào bằng tre và chiếc nón của mẹ vất ở bên cạnh. Chắc bà đang ở đâu đó quanh đây. Không gian yên ắng, chỉ có tiếng đàn gà con đang lao xao chí chóe đào bới giun ở trong vườn. Anh khẽ khàng mở cánh cửa thông vào gian nhà chính, nhưng cũng không thấy bóng mẹ đâu. Đặt khẽ khàng chiếc ba lô xuống phản gỗ kê ngay phía trước bàn thờ của bố, anh đưa tay lên vái lạy mấy cái như mẹ anh vẫn dạy từ khi còn nhỏ.

- Thầy ơi, con đã về đây!

Bỗng, anh giật thót mình vì nghe có tiếng động mạnh ở gian dưới bếp, rồi tiếng mẹ cười khúc khích, cùng với một giọng đàn ông mà anh nhận ngay ra đó là của ông hàng xóm thương binh cụt chân. Đầu óc anh chao đảo choáng váng xây sẩm mặt mày. Nhưng trạng thái đó trôi qua rất nhanh nhường chỗ cho một cơn giận dữ, ghen tỵ nổ bục ra trong lồng ngực khiến mắt mờ đi. Anh loạng choạng chạy thẳng xuống bếp và đứng khựng lại ở ngưỡng cửa vì ánh mắt đập phải cảnh hai người đang ôm nhau trên đống rơm ở trong góc. Nồi khoai luộc sôi trào cả ra bếp cháy xèo xèo. Anh quờ tay nắm lấy chiếc nạng của ông hàng xóm để tựa vào cạnh cửa và giơ lên giáng thật mạnh xuống chiếc gáy đen xạm vì nắng và cáu bẩn… Một tiếng thét kinh hoàng của người đàn bà góa đang ở tuổi hồi xuân vang xa giữa buổi trưa hè oi ả khiến mấy bà già túm tụm ngồi đan rổ rá ở dưới gốc cây mít giật mình ngơ ngác nhìn nhau chưa hiểu chuyện gì xảy ra…

Tòa án xử quân nhân phạm tội giết người diễn ra ngay tại sân vận động của huyện, dưới những ánh đuốc của hàng trăm người dân từ khắp các làng xã lân cận kéo tới nghe. Một đêm đầy trăng và cũng đầy nước mắt của những người chứng kiến. Ông chánh án đầu hói khó khăn lắm mới thốt ra được hai chữ: Tử hình! Cả đám đông rùng rùng chuyển động. Tiếng la ó phản đối lan rộng ra. Người mẹ gầy tọp, quần áo lôi thôi đầu tóc rối bù, hai mắt đờ đẫn đứng ở ngay hàng đầu, rú lên một tiếng khiến mọi người sởn gai ốc, rồi ngã vật xuống đất bất tỉnh. Không khí của phiên tòa chỉ tạm lắng xuống khi giọng bào chữa của ông luật sư mặc áo trấn thủ và đeo chiếc xà cột ở bên hông vang lên giữa những tiếng nức nở, tiếng sụt sịt của bà con dân làng:

- Thưa bà con, thưa quý tòa – Ông tháo chiếc kính trắng đang đeo xuống và cầm ở tay – Chúng ta nên xem xét kỹ tâm lý của tội phạm: Yêu mẹ, kính mẹ từ tấm bé, anh đi chiến đấu vì những lý tưởng cao đẹp, vì Tổ quốc. Được nghỉ phép trở về trong niềm vui báo công, nhưng một sự việc xảy ra đã làm anh không giữ được tự chủ, không còn là mình nữa. Người có lỗi trong vụ việc này không phải ai khác mà chính là ông hàng xóm!

Cả đám đông ồ lên, vỗ tay rào rào tán thưởng.

Những bó đuốc rừng rực cháy được nâng lên hạ xuống như trong một buổi lễ lên đồng tập thể.

Ba tháng sau, tòa phúc thẩm xét lại và bản án được giảm xuống còn 20 năm tù.

Sau hơn mười năm chịu án cải tạo lao động, anh được ân xá sớm trong một dịp Quốc khánh. Sau chấn động bất ngờ đó, người mẹ đã mắc chứng tâm thần, lúc tỉnh lúc điên, bỏ nhà đi lang thang không rõ tông tích. Anh không dám trở về làng vì mặc cảm tù tội, lý lịch hoen ố, vì sợ mấy thằng con trai lộc ngộc của ông hàng xóm trả thù. Vào một đêm lất phất mưa, anh lẻn về làng. Căn nhà lâu không có hơi người bốc mùi ẩm mốc và chuột bọ chạy sột soạt trên các thanh kèo gỗ, trên mái tranh. Ngọn lửa nhỏ bằng hạt đậu của chiếc bật lửa leo lét cháy trong lòng bàn tay. Anh giật mình khi nhìn thấy trên bàn thờ của bố có cả bức ảnh ông hàng xóm. Cảm giác căm thù phẫn nộ của mười năm trước đã không còn chỗ trú chân trong lòng của một người đàn ông đã nếm trải bao đắng cay, hiểu và cảm thông được nỗi lòng của mẹ, của người phụ nữ. Anh châm ngọn đèn hoa kỳ sắp cạn dầu trên bàn thờ và giật mình bủn rủn chân tay khi nhìn thấy một mảnh giấy đã úa vàng với những dòng chữ to, xiêu vẹo và đầy lỗi chính tả của mẹ để chặn dưới chân đèn.

“Con trai yêu dấu của mẹ!”...

Đầu rũ gục xuống, anh cứ ngồi im như vậy, bất động, tê tái như thể chính căn nhà tranh xiêu vẹo đang chìm dần vào bóng tối này bỗng biến thành tầng đầu của địa ngục.

Mẹ cầu xin anh tha lỗi và thú nhận: Ông hàng xóm chính là cha đẻ của anh.

Đêm hôm đó, anh phóng hỏa ngôi nhà và cất bước lên đường lang thang phiêu bạt, vừa kiếm sống vừa tìm tung tích của mẹ.

Vũ Tuấn Hoàng

9/11/13

Trở lại nước Nga (2)


(3 phần tiếp theo và hết)

Phóng sự của Thu Hà (2012)

Phần 2


Ngày nào ở Matxcova cũng đi chơi mệt nghỉ. Lúc thì đi ô tô cô em lái, lúc đi metro đến chỗ tham quan. Thành phố sạch và xanh, có cảm giác như đang đi ở Tp nào đó bên Tây Âu. Matxcơva đang xây dựng Moscow City – trung tâm tài chính và thương mại quốc tế gồm những tòa nhà cao chót vót. Những cửa hàng, trung tâm mua sắm kiểu phương tây không thiếu, nghe nói hàng hóa ở đó đắt lắm. Ngay trung tâm, gần Quảng trường đỏ, có dãy phố mua sắm ngầm dưới mặt đất “Trung tâm thương mại “Okhotny Ryad” đủ mặt các thương hiệu lớn nước ngoài. Nhiều tuyến đường và ga metro mới, bên cạnh thường có siêu thị. Hôm đi metro, vẫn tuyến đường mình hay đi học, tên các ga ngày xưa thuộc lầu lầu, sao bây giờ nghe mấy tên ga lạ hoắc. Hóa ra một số tên đường phố và nhà ga mang tên các nhà cách mạng như Các Mác, Dzerzinski, hay nhà văn Goorki đã bị đổi tên sau thời Xô viết. Đồi Lenin gần trường Tổng hợp nay mang tên Đồi Chim sẻ (Vôrôbiôvưi gorư) và ga metro cũng bị đổi tên theo. Riêng ga tàu hỏa gồm các tuyến tàu đi thành phố Saint Peterburg- Tp Leningrad cũ- vẫn giữ nguyên tên là Leningradski Vokzal (Nhà ga Lê Nin).

Trên metro vẫn thấy một vài người đọc sách báo. Hội trẻ thì lướt mobile. Hầu như không gặp các bà béo (phụ nữ bây giờ lo chăm sóc sắc đẹp nhiều hơn?) hay những ông say rượu khật khờ. Các cô gái ít người mặc váy mà thường là quần Jean hay quần côn, trông khỏe khoắn và năng động. Thực ra mình chỉ đi metro có 2 lần nên nhận xét không biết có phiến diện không. Trên đường đi cũng chả ai để ý đến mình và cũng không thấy police hỏi giấy tờ. Tuy vậy mình vẫn không dám đi đâu lang thang một mình như đi du lịch mấy nước phương tây.

Nước Nga hậu xô viết phục hồi nhiều nhà thờ và xây nhiều nhà thờ mới. Những khu chung cư mới, có cả những nhà thờ nho nhỏ, mới xây. Các kiến trúc cũ được sửa sang phục dựng lại, đặc biệt là các nhà thờ (sabor) trong khu điện Cremlin. Ngay cả tháp Spaskaia của Điện Kremlin cũng mới có 1 bức tranh thánh mới tìm thấy, gắn phía mặt ngoài tháp. Nhà thờ Chúa cứu thế (Хра́м Христа́ Спаси́теля) -nhà thờ chính của nước Nga và lớn nhất của Giáo hội Chính thống giáo trên toàn thế giới mới được xây dựng lại (1994-2000) theo đúng phiên bản kiến trúc ban đầu (được xây dựng từ nửa đầu thế kỷ 19 và bị phá hủy năm 1931 khi quy hoạch lại Matxcova dưới thời Stalin). Nhà thờ quá hoành tráng và lộng lẫy, nghe nói hơn 14 tấn vàng đã được dùng để dát các mái vòm của nhà thờ, tiếc là người ta không cho chụp ảnh bên trong nhà thờ. Một điều mà bây giờ mình mới nhận ra là đa số các bà các cô, khi đi lễ nhà thờ, đều cẩn thận quàng khăn trùm đầu (nhưng không bịt mặt như đạo hồi và khăn thì đủ màu); có lần mình được giải thích đó là để dấu bớt sự cám dỗ (cũng có thể mình nghe nhầm).

Đến Quảng trường Đỏ, mình định đứng giữa quảng trường chụp ảnh, đúng vị trí mình và Thúy Hà đã chụp ảnh trong buổi đi chơi đầu tiên ở Matxcova năm 1976 khi mới từ Kiev lên nhưng không được. Một sân khấu tạm và sàn biểu diễn đã được lắp đặt để chuẩn bị cho buổi lễ kỷ niệm Ngày thành phố (1 tháng 9). Hàng người vào viếng Lenin vẫn rất dài. Lúc mình vào bên trong thành Kremlin, gần 12h trưa, may mắn được chứng kiến lễ diễu hành của đội kỵ binh cận vệ của Putin; Nó như một show diễn gần nửa tiếng đồng hồ chỉ diễn ra vào đúng 12 h trưa nếu hôm đó Tổng thống có mặt ở Kremlin, rất đáng xem.

Matxcova bây giờ cũng quen với các nhà hàng quán ăn nhanh như MacDonal. Đặc biệt có chuỗi nhà hàng bò sữa My My (đọc theo tiếng Việt là MU MU). Quán có nội thất độc đáo toàn bằng gỗ, phục vụ chủ yếu các món ăn Nga, đủ các loại (có thêm thực đơn susi Nhật) theo kiểu buffet tự chọn. Khách tự lấy khay xếp hàng theo dây chuyền (như kiểu các nhà ăn sinh viên ngày xưa), lựa chọn món và ra quầy thanh toán. Phục vụ rất nhanh và ngon, chỉ hơi đắt, bữa trưa muốn ăn no một chút cũng phải khoảng 300-500 rúp (32 rúp/1 USD). Mấy hôm ở Mátx cô em và mấy người bạn đều dẫn mình đến đây ăn bữa trưa rồi tranh thủ đi chơi tiếp.

Matxcơva có nhiều công trình mới so với thời xô viết, tất nhiên rồi, vì đã mấy chục năm đã qua. Nhưng cũng có những kiến trúc mới mình chả thấy đẹp tí nào như tượng Piot Đệ nhất và con tàu được dựng lên bên bờ sông Matxcova ở vị trí không gian rất hạn hẹp, choán cả tầm nhìn dòng sông. Ngày xưa toàn đi metro và xe buýt, quanh đi quẩn lại chỉ từ nhà đến trường, đâu có thạo đường phố Matxcowva. Nay được ngồi xe ô tô đi nhiều nơi thấy Matxcơva có nhiều chỗ đẹp mà mình chưa bao giờ tới. Tu viện Novodevichy - nghĩa trang danh nhân Nga (xem ảnh tu viện soi bóng ven hồ) thật tĩnh lặng và lãng mạn. Đường tới Chợ đồ lưu niệm Nga-Vernisage ở Izmailôvô- phía đông bắc thành phố, dọc theo bờ sông Matxcova đầy cây xanh,như những công viên nhỏ ven đường. Khu chợ này trước đây mình cũng chưa nghe bao giờ. Bên hông chợ là thành Kremlin ở Izmalov, với những tường thành và tháp chuông, nhà gỗ đặc trưng của Nga trong một khuôn viên nhỏ, giống như chuyện cổ tích (nhưng mình thấy nó cứ giả tạo thế nào ý). Vernisage gần giống chợ trời bên châu Âu nhưng hàng quán đa số có quầy và giá bày biện. Nơi đây bán các đồ thủ công mỹ nghệ, đồ lưu niệm Nga, đồ cổ và tranh vẽ. La liệt đủ loại Matrioska, lật đật theo kiểu dáng truyền thống và theo chủ đề hiện đại, nhiều con do chính tác giả vẽ và đem bán. Giá cả ở đây rẻ hơn trong thành phố đến mấy lần. Nhưng không phải cứ con to là đắt hơn con nhỏ nhé, còn tùy độ tinh tế, tỉ mỉ của nét vẽ và kỹ xảo gia công. Nhiều tranh vẽ cảnh thiên nhiên Nga rất đẹp nhưng cỡ to không thể mua mang về, chỉ chụp ảnh. Đi chợ từ sáng, trời mưa nhỏ, lạnh 9-10 độ, thế mà lạc vào chợ rồi cứ mải miết xem đến tận chiều mới ra về. Chiến lợi phẩm là một bức tranh nhỏ và mấy con Matrioska, lật đật,vài đồ lưu niệm nho nhỏ cho bộ sưu tập của mình và làm quà tặng. Vernisage - một địa chỉ nên đến thăm nếu chương trình du lịch của bạn không quá dày đặc.
















Phần 3. Saint Petersburg


Từ Matxcova đi Saint Peterburg có thể đi tàu ngồi và tàu nằm. Đi tàu nằm, tối lên tàu sáng hôm sau đã đến nơi. Còn tàu ngồi nhanh hơn, mất 4 tiếng. Mình đi một mình nên chọn tàu Express 4 tiếng. Đường sắt Nga nay đã tư nhân hóa nên cung cách phục vụ cũng lịch sự và chu đáo, giống tàu bên Tây Âu và có thể mua vé online. Có 2 loại tàu Express: Sapsan và Nhepxki. Lượt đi của mình là Nhepxki, lượt về là Sapsan. Tàu Sapsan giống kiểu tàu Eurostar của Tây Âu, sang trọng, toa có ghế ngồi không chia khoang kín. Còn tàu Nhepxki cũng đẹp, mặc dù là tàu ngồi vẫn chia khoang 6 người, tầng trên còn có TV (hay chỉ đơn giản là monitor, mình không rõ vì không thấy bật TV), chỗ ngồi thoái mái, có thể để hành lý tầng trên trong khoang, trong khi tàu Sapsan phải để vali tập trung phía đầu toa. Mình thích đi tàu Nevski tiện lợi hơn và rẻ hơn Sapsan. Về sau mới biết là tàu Nhepxki năm 2009 đã bị đánh bom (gần 30 người thiệt mạng và hơn 90 người bị thương), thật hú vía.

Tàu đến Saint Peterburg 9 giờ tối nhưng đường phố vẫn rất sáng. Ngay trước ga, trên nóc tòa nhà phía đối diện là dòng chữ to tướng: Leningrad – thành phố Anh hùng! Thành phố đã lấy lại tên cũ là Saint Peterburg nhưng những trang lịch sử hào hùng thì không thể thay đổi.

4 ngày ở Saint Peterburg không đủ để đi hết những các cung điện, nhà thờ, bảo tàng, các khu vườn của thành phố, các bạn biết rồi. Vé vào Cung điện mùa đông và Bảo tàng Hermitage vẫn phân biệt người nước ngoài và người Nga: 400 rúp và 100 rúp. Muốn chụp ảnh trong cung điện và bảo tàng trả thêm 200 rúp nữa. Hôm được cậu bạn Việt kiều Nga (à, bạn ấy cũng cùng khóa đi Nga của hội mình đấy) đưa đi thăm Cung điện Ekaterine (Catherine Palace), mình gặp may không phải xếp hàng chờ đợi nhiều, vào cả công viên và bên trong Cung điện, xem được Phòng Hổ phách mới phục dựng lại (vào mùa du lịch, có người đến đây không vào được bảo tàng bên trong Cung điện vì xếp hàng mất mấy tiếng đồng hồ). Mấy bức ảnh đẹp chụp kênh, hồ nước và rừng cây chính là trong công viên của Cung điện.

Ở Matxcova hay St.Petersburg mình gặp rất nhiều đám cưới, có cả đám cưới trong nhà thờ, hóa ra mùa này là mùa cưới. Tình cờ chứng kiến một đám cưới nhỏ rất vui nhộn trong công viên của Cung điện Ekaterine với những nghi thức ngồ ngộ. Một nửa bánh mì hình ô van (to bằng vợt bóng bàn nhưng dài hơn), trên phết đầy trứng cá hồi màu đỏ; Cô dâu chú rể cùng cắn miếng bánh từ hai đầu, ai cắn được miếng to hơn trong 1 lần sẽ là người làm chủ gia đình. Trước khi vào nhà thờ làm lễ, cô dâu, chú rể và khách tham dự đám cưới đều cúi đầu chui qua một chiếc khăn thêu dài, trên có bánh mì (chắc là cả muối nữa), do hai bà đỡ hai đầu. Mấy bà khách dự đám cưới có vẻ thích thú vì có một Chinese (người châu Á nào đối với họ cũng là TQ) cứ lăng xăng bấm máy ảnh liên tục chụp đám cưới. Về sau mình mới biết là cậu bạn lại chụp mình đang “tác nghiệp” và cười phớ lớ. Hắn bảo sẽ đưa hình của mình lên facebook cho cả hội sư phạm Leningrad (khóa 1975 - 1981) đoán xem đó là ai.

Ra khỏi cung Ekaterine, vẫn còn đang lâng lâng vì vừa được dạo chơi, thư giãn giữa công viên ven hồ thì gặp phải việc không may: ô tô của cậu bạn đã bị công an cẩu đi đâu mất do đỗ sai vị trí. Trời bắt đầu tối dần và lạnh. Hành trình đi bộ tìm xe và cảnh sát giao thông xử lý vụ này dài và mệt mỏi, chỉ biết là 3 tiếng sau cũng lấy được xe sau khi làm luật và về đến Saint Peterburg lúc 9 giờ tối.

Hôm sau thăm Cung điện mùa hè Peterhof ở Tp. Puskin nổi tiếng với quần thể đài phun nước và công viên, mình thấy đây còn đẹp hơn Lâu đài Versaille của Pháp. Trời nắng đẹp bất ngờ vì mấy hôm trước khi mình xuống St Peterburg ở đây toàn mưa. Mình cứ đùa: mình đi đâu, nắng đến đấy (hơi bị "tinh vi") nhưng quả thật lúc mình ở St Petersburg thì Matxcowa lại mưa suốt mấy ngày.

Saint Peterburg cũng có nạn tắc đường nên ngày cuối cùng mình chỉ đi các địa điểm gần trong thành phố rồi ra ga sớm. Còn thời gian tranh thủ ngó qua trung tâm mua sắm Galeries (như kiểu Shopping Mall) ngay bên cạnh ga. Cậu bạn mời mình ăn trưa cùng hai vợ chồng.Vợ Nga, chồng Việt. Vợ bạn vẫn còn nét rất xinh, thảo nào bạn mình yêu say đắm cô bạn cùng trường. Hai vợ chồng cùng làm du lịch. Đến lúc này chợt nhớ có ai đó trên mạng bảo là ai sang Nga cũng phải đăng ký tạm trú với công an, khi xuất cảnh nếu không có dấu trên tờ phiếu nhập cảnh (được cấp tại cửa khẩu, mình không phải khai) đừng hòng ra khỏi biên giới. Tự nhiên thấy lo. Cả hai vợ chồng bạn đều bảo “Phải đăng ký với công an chứ, trong vòng 3 ngày nhập cảnh, chậm nhất là 7 ngày làm việc”, nơi nào gửi giấy mời cho cậu thì nơi đó phải làm thủ tục này, nếu không đúng thủ tục, sau này cậu xin visa sẽ bị rắc rối và công ty kia cũng bị phạt”, Bạn còn dọa có khi nó hoãn không cho xuất cảnh! Thôi rồi, mải đi chơi quá quên hỏi kỹ việc này. Giấy mời của mình chính là một hãng du lịch ở Saint Peterburg làm (mình làm dịch vụ ở Việt Nam có bao giờ liên lạc với công ty này đâu), vài giờ nữa mình về Matxcova rồi, còn làm thủ tục gì được nữa. Nhưng nghĩ kỹ thì lại thấy an ủi chút vì mình sang Nga đúng chiều thứ Sáu; 10 ngày sau, thứ Hai, lại lên đường về nước, chưa đủ 7 ngày làm việc. Các bạn nếu có đi Nga nhớ lưu ý chuyện này nhé và đi đâu cũng phải mang hộ chiếu (bản copy không được chấp nhận) kèm cái phiếu nhập cảnh họ phát kẹp trong hộ chiếu lúc làm thủ tục vào Nga, đừng có đánh rơi hoặc vứt đi mà rắc rối to.

Một điều đáng để ý nữa là việc phân vùng điện thoại ở Matx và Saint Peterburg. Ở Matx mình dùng 1 sim, đến St.Peterburg lại dùng 1 sim khác, nếu không gọi về Matx như roaming ra nước ngoài, rất tốn tiền. Có lẽ nước Nga quá rộng nên mới như vậy.

7 giờ tối lên tàu Sapsan, gần 11.30 giờ đêm về tới Matxcova. Ngồi tạm ở ga gần 1 tiếng đồng hồ vì cô em chưa kịp ra đón, mua 1 cốc trà nóng và 1 hotdog ăn tạm. Mọi việc vẫn ổn, không thấy ai quấy rầy hay cảnh sát hỏi han.






Phần 4.


Gần 1 giờ đêm cô em đến đón mình ở ga, xin lỗi đến muộn vì hôm đó là ngày rằm tháng 7, cả nhà lên chùa làm lễ. Ở bên này cũng nhiều gia đình người Việt đi chùa, cứ đến ngày rằm mồng một tụ tập nhau tại một địa điểm được chọn làm nhà chùa, ăn chay, cúng bái và niệm phật. Thỉnh thoảng có cả các bậc cao tăng từ trong nước sang giảng đạo Phật.

Đi ô tô buổi tối lại hay vì không tắc đường và được ngắm Matxcova về ban đêm. Rất đẹp. Vẫn còn hai ngày ở Matxcova, mình đi thăm thêm mấy nơi: Bảo tàng Borodino Panorama, Công viên Chiến thắng (khánh thành năm 1995). Còn một nơi nữa rất đáng tham quan ở ngoại ô Matxcova, mình chưa bao giờ nghe nói, đó là Tsaritsyno Palace - Cung điện – Khu bảo tồn mới mở cửa 5 năm nay. Xem trên mạng quả thật đẹp quá (http://www.tsaritsyno-museum.ru/). Tiếc là không đủ thời gian ghé thăm.

Và cuối cùng, một nơi không thể nào không đến trong chuyến đi này – Trường Quan hệ quốc tế Matxcơva.

31 năm sau ngày tốt nghiệp (1981), mới có dịp trở lại thăm trường và ký túc xá. Trường Quan hệ quốc tế Matxcơva (MGIMO), bây giờ đã là University gồm 7 khoa và 6 trường ĐH, vẫn thuộc Bộ Ngoại giao Nga. Bên cạnh tòa nhà chính của trường, có một tòa nhà có biển tên rất lạ: Trường đại học quốc tế chính sách năng lượng và ngoại giao (The International Institute of Energy Policy and Diplomacy- IIEPD), rất đặc trưng cho nền ngoại giao của Nga. Chắc trên thế giới chẳng có trường nào như thế.

X, bạn cùng khóa ở MGIMO, đã là công dân Nga mấy chục năm nay, lái xe ô tô lướt qua những ga metro, bến ô tô trên đường đi học của mình ngày xưa. Khu vực Novye Cheryemushki không thay đổi nhiều , vẫn những tòa nhà bốn, năm tầng nhưng được sơn sửa mới hơn, cách xa nhau bằng những ô đất nhiều cây xanh, khác với các khu mới của Matxcơva, nhiều nhà cao tầng và mật độ công trình dày đặc hơn.

Số nhà 26 Novye Cheryemushki vẫn là ký túc xá số 1 của MGIMO. Tòa nhà sơn màu đỏ nổi bật trong dãy phố. Bên trong không khác mấy so với ngày xưa, tất nhiên, có những thiết bị hiện đại như camera theo dõi các tầng và phòng ốc được tân trang mới hơn. Bà thường trực (trẻ thôi, không già và béo như mấy bà ngày xưa) rất thông cảm với 2 cựu học sinh, tháp tùng hai đứa lên tận tầng 2 cho xem lại mấy phòng ở. Hai đứa ra về bằng lối sau, lại nhớ mấy chàng ngày xưa đưa đón người yêu toàn đi lối này và đôi khi còn trèo qua cửa sổ, trốn bà thường trực Masha hay quát. Hai đứa đi bộ chầm chậm qua con phố nhỏ, qua ngã tư đến hồ nước gần ký túc xá. Không ai nói câu nào, mỗi đứa theo đuổi một kỷ niệm riêng. Mặt nước trong veo, cỏ xanh mướt. Nắng nhè nhẹ, những cành bạch dương nhỏ khẽ đu đưa trong gió. Matxcơva đang chuyển từ hè sang thu, cây lá bắt đầu lốm đốm ngả vàng. Được hít thở không khí mùa thu trong phong cảnh thanh bình, nhớ quá thời sinh viên.

Chuyến đi 10 ngày của mình đã đến hồi kết thúc. Sợ tắc đường phải ra sân bay từ 3 rưỡi chiều mặc dù hơn 8h tối mới bay. Nhưng hóa ra gặp may, đi thẳng một lèo, 1 giờ sau đã tới sân bay. Làm thủ tục xuất cảnh, lại hồi hộp không biết họ có đòi cái đăng ký tạm trú gì đó không. Hai, rồi ba phút trôi qua, cộp cộp, thế là xong, nhận lại cái hộ chiếu mà mừng húm, họ thu lại cái phiếu nhập cảnh. Còn 3 tiếng nữa mới đến giờ bay, đủ thời gian lượn Duty free shopping.

Chỉ khoảng 3 tuần nữa, cuối tháng 9, đầu tháng 10 là đến mùa thu vàng, tiếc quá mình không thể ở lại. Ai cũng bảo lần sau cố gắng đi vào đúng dịp đó nhé. Biết có dịp trở lại nữa không? Ôi nước Nga - ký ức không bao giờ quên.

Thu Hà












(Nguồn ảnh: Thu Hà)

8/11/13

Trở lại nước Nga


Hà Nội, ngày 08/11/2013 - 10:24 SA

Kính gửi TTST BND,

Nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, gửi các anh chị và các bạn xem, Phóng sự này Hà viết cách đây 1 năm, sau khi thăm lại nước Nga, bài mới đăng trên facebook Ha Le Thu (4 phần).

Thu Hà

Phóng sự (2012)

Phần 1


Phương cứ hỏi phóng sự về Nga mãi nên cũng quyết định ngồi vào máy, ngắm lại một lô ảnh chụp trong 10 ngày ở Nga và thử viết vài dòng. Chỉ là tập sự thôi, không dám sánh với Nhà văn Thanh Phương.

Mong được trở lại Nga bao lâu nay mà chưa đi được (lần qua Nga cuối cùng cách đây đã hơn 24 năm), phần do công việc, phần vì sợ: sợ an ninh không ổn, sợ hải quan Nga, sợ bọn đầu trọc…Đến hè này, trong khi chờ công việc ở Dự án mới và hưởng lương thất nghiệp, quyết định đi Nga một chuyến. Hô hào mọi người cùng trường, cùng khóa , chả ai hưởng ứng, đành lên đường một mình. Rất may đã có cơ sở “cách mạng” bên Nga (người quen của ông xã) lo giúp phần ăn ở Matxcơva và Saint Peterburg.

Nghe nói nên làm visa qua cty du lịch thế là cũng thuê dịch vụ, cả giấy mời và visa là 200 USD. Đã book vé Vietnamairline, nghe mấy đứa hay đi Nga (việt kiều Nga) về bảo nên bay Aeroflot vì sân bay đến là Sheremetyevo mới và hiện đại, hải quan lịch sự hơn, còn nơi đến của VNA là Domededovo vừa cũ vừa bất lịch sự với người VN, làm thủ tục nhập cảnh mất hàng giờ, thế là tuy cũng yêu nước muốn dùng hàng VN nhưng đành giúp Tây vậy.

Máy bay hạ cánh, bắt đầu hồi hộp. Xuống sân bay làm thủ tục nhập cảnh. Chuyến bay đa số là người nước ngoài. Rủi thế nào mà lại đứng ngay sau 2 mẹ con người vùng Kavkaz hay Tác ta gì đó ( mắt đen, tóc đen, giống bọn khủng bố Cherchen). Mãi chả thấy 2 mẹ con nó (1 bà và 1 cô) ra khỏi quầy. Tất cả hội đứng sau quyết định dạt sang các hàng khác. Đến lượt mình, lại cũng phải chờ. 10 phút trôi qua, hỏi “Sao lâu thế?” “ Chúng tôi đang kiểm tra, đề nghị đứng lui ra phía sau”. Tôi phải chờ bao lâu nữa? – 20 phút nữa!. Trong khi người Nhật, người Tây đi qua rất nhanh. Đang chờ lại gặp 1 cháu thanh niên người Việt cũng chờ kiểm tra ở quầy khác. Thấy mình đang gọi điện cho cô em ra đón nó túm vội lấy, bảo bác giúp cháu với. Thật tội, tiếng thì chả biết, điện thoại không liên lạc được với người ra đón (làm gì có roaming), người ra đón cũng không gọi cho nó được, mình thành liên lạc bất đắc dĩ. Nó sang đây để đi làm, không biết có may mắn không hay là lại bị chui vào 1 ổ bóc lột người nào đó ( mình nghe nói có việc như vậy, vừa rồi công an đã khui ra mấy vụ).

Cuối cùng sau 1 tiếng đồng hồ cũng ra được bên ngoài, không thấy hải quan hay công an khám xét hoạnh họe gì. Mình cũng mất một chút thời gian giúp cháu kia khi Hải quan bắt nó cho hành lý qua máy soi vì trông đống va li túi xách của nó đáng ngờ. Mọi người bảo thế vẫn là nhanh so với Domodedovo. Hôm đó là Thứ 6, đường vào Tp không bị tắc nhưng phía bên kia dải phân cách (ra khỏi TP) xe cứ ùn lại. Cô em (cùng trường nhưng sau 13 khóa) bảo: Matxcova hay tắc đường lắm, nhiều khi chỉ cách sân bay một đoạn ngắn mà phải mất 1 tiếng mới vượt qua được. Hóa ra nạn tắc đường kẹt xe không chỉ là vấn nạn của Hà Nội.

Vẫn chưa đến mùa thu vàng, Matxcova cây lá vẫn xanh, trời có hôm nắng ấm 20 độ, có hôm mưa nhỏ, rét 10-15 độ. Chuyến đi của mình nói chung là may vì mấy hôm đi chơi chụp ảnh thời tiết đều đẹp, kể cả ở Matxcova và Saint Petersburg. Tháng 8 năm nay đúng dịp Matxcova kỷ niêm 865 năm ngày thành lập và 200 năm trận đánh BÔRÔĐINÔ với quân của Napoleon. Ngày 1.9 là ngày Hội thành phố, trùng với ngày Kiến thức và ngày khai giảng năm học mới nên Quảng trường đỏ rất đông vui. Matxcova kỷ niệm Ngày Thành phố với khẩu hiệu "Thành phố tốt đẹp nhất trên Trái đất”!







_____

TTST BND Xin mời xem tiếp kỳ sau (bài viết gồm 4 phần).
Nguồn ảnh trong bài: do tác giả cung cấp./.

31/12/12

Ác mộng giữa Paris


Thân gửi BBT blog ttst bnd,

Trước tiên, xin phép được gửi tới các anh cùng tất cả các thành viên của Trại trẻ một năm mới vui vẻ, ấm cúng và nhiều thành công trong công việc cũng như cuộc sống riêng tư.

Đối với những người phải sống xa nhà thì Tết là dịp để người ta nghĩ nhiều hơn về quê hương với bao tình cảm vui buồn lẫn lộn.

Thay cho một thiếp chúc Tết, Vũ gửi tới các anh và các bạn một truyện ngắn mới đăng trên Văn Nghệ số 44 cách đây không lâu.

Thân ái
Vũ Tuấn Hoàng


Ác mộng giữa Paris


Truyện ngắn


Nữ thi sĩ già Marielle run run đặt bàn tay gầy gò, lốm đốm đồi mồi lên lan can chiếc cầu bắc qua sông Seine. Đôi mắt đầy xúc động rơm rớm lệ hướng về phía hoàng hôn đang xuống dần trên nóc các tháp chuông và cung điện tráng lệ, niềm tự hào của nước Pháp. Bà cứ đứng lặng đi một lúc lâu, mái đầu bạc trắng như tuyết, trông chẳng khác gì một di tích có niên đại hòa quyện vào trong tổng thể kiến trúc xung quanh. Đạo diễn Lâm Quang lo lắng hỏi:

- Bà có mệt không? Hay chúng ta quay trở về khách sạn nghỉ?

Nữ thi sĩ Pháp khoát tay một cái như gạt đi nỗi lo âu của hai vị khách phương xa, và bằng một giọng vẫn còn khỏe và vang so với cái tuổi thất thập của mình, nói:

- Cuốn phim tuyệt vời của ông trong Festival hôm qua khiến tôi mất ngủ vì nhớ lại một kỷ niệm khó quên trong đời, lúc mới mười tám tuổi. Không phải vô lý mà tôi đưa hai bạn ra đây, đúng vào giờ này, ngay tại vị trí tôi đang đứng đây... Năm giờ chiều – Bà gõ gõ ngón tay tô móng đỏ chót lên mặt kính chiếc đồng hồ đeo tay - Tôi muốn các bạn thử suy nghĩ xem, có thể làm được một bộ phim từ chất liệu tôi sắp kể ra đây, hay không? Tôi đã… giết người. Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong đời. Tôi giết người và trở thành nổi tiếng, thậm chí trở thành thần tượng. Thơ của tôi có mùi máu. Tất nhiên, chỉ mình tôi cảm nhận được thôi. Các nhà phê bình đặt cho nó đủ các thứ danh hiệu mỹ miều, trường phái này nọ, nhưng đều không đúng. Thơ của tôi được tưới bằng máu và nỗi đau khổ của con người.

Nghe đến đây, không hiểu sao khuôn mặt béo tốt hồng hào của ông đạo diễn trạc ngoài sáu mươi hơi thất sắc. Ông luống cuống nhìn sang bà vợ - nữ diễn viên Trúc Quỳnh nổi tiếng, hàng chục năm trên màn bạc chuyên đóng những vai phụ nữ có thân phận éo le, nước mắt nhiều hơn nụ cười. Mặc dù đã có tuổi, vẻ đẹp của bà trong chiếc áo dài màu tím Huế vẫn còn làm cho các lữ khách đi ngang qua phải ngoái đầu quay lại nhìn. Bà không hiểu tiếng Pháp nên chồng phải dịch ra.

- Những cảnh quay cuối cùng về đôi voi rừng làm tình dưới trời mưa tầm tã, trên nền của ngôi nhà rông sau trận bom, xung quanh còn lăn lóc những mảnh thi thể, những đồ vật dụng hàng ngày vỡ nát, thật đầy chất triết lý. Ông đã chinh phục được ban giám khảo khó tính bởi chính trường đoạn cuối này.

Nữ thi sĩ Pháp vừa nói vừa đưa tay lần rờ những chiếc khóa sắt móc đầy trên thành cầu. Bao nhiêu đôi trai gái từ khắp nước Pháp và cả thế giới đã đến đây để lưu lại dấu vết của hai trái tim đang yêu bằng những chiếc khóa, đủ kiểu về hình dạng cũng như kích thước. Bởi vậy, chiếc cầu này được gọi tên là cầu Tình Yêu.

- Bà hơi quá khen – Lâm Quang thốt ra một câu chỉ để chứng tỏ mình khiêm tốn, nhưng trong bụng niềm kiêu hãnh cứ rộ lên.

- Ôi, những buôn làng Tây Nguyên treo leo trên đỉnh núi Ngok Linh quanh năm trắng mây, những cơn mưa rừng Tây Nguyên mịt mùng dai dẳng.

- Người phương tây chúng tôi làm sao biết được trên thế giới này có một cái góc bị nhân loại lãng quên đó!? Tôi đặt tên cho nó là Thiên Đường, nơi mà mỗi mùa mưa tới lại như một lần khai thiên lập địa, nơi có tháng Ninh Nông với tiếng cồng chiêng vang vọng như tiếng ngân của hồn đất hồn rừng, nơi mà cả làng trút bỏ hết cả quần áo kéo nhau vào rừng thật sâu, để sống lại cuộc sống săn bắn hái lượm hàng ngàn năm trước, tắm mình trong các dòng suối nguồn trong vắt, hú gọi linh hồn tổ tiên trở về …

- Người ta bảo làm thế để gột rửa toàn bộ con người, cả về tâm linh cũng như thể xác – Đạo diễn Lâm Quang giải thích thêm.

- Còn bầu trời bên trên họ là gì? Là những chiếc máy bay ném bom B52, là sắt thép là chất độc da cam, bom napan.. được gọi chung bởi một danh từ mỹ miều – “ thế giới văn minh”. Cái Thiên đường đó cần gì phải biết tới sự tồn tại của thế giới văn minh đâu, mà họ vẫn hạnh phúc! Những gương mặt của người già, thanh niên, phụ nữ, trẻ con mới ngời sáng làm sao! Những bộ vú trần căng mẩy đầy sức sống của các thiếu nữ ! Cảm ơn ông đã cho khán giả phương tây được nhìn thấy tội ác của cái gọi là thế giới văn minh. Những người dân lành trên dãy Trường Sơn đó đã làm nên tội tình gì để phải chịu cái chết thê thảm của bom na-pan ngay trong ngày Hội thiêng liêng của dân tộc mình? Họ đe dọa an ninh nước Mỹ? Hay, họ không đáng được sống chung dưới ánh mặt trời cùng các dân tộc “thượng đẳng” khác, nơi mà ngay một con chó còn được chăm sóc chu đáo và tốn kém hơn. – Nữ thi sĩ im lặng một lát rồi chợt hạ giọng, nói - Hai ông bà có muốn để lại trên thành cầu này một chiếc khóa sắt không? Để kỷ niệm tình yêu lâu bền và hạnh phúc của mình?

- Có lẽ, chúng ta cũng nên theo phong tục ở đây, không phải dễ mà hai vợ chồng mình có dịp cùng tới Paris - Đạo diễn Lâm Quang quay sang nói nhỏ với vợ.

Nữ thi sĩ Pháp ôm lấy bờ vai của Trúc Quỳnh và tiếp lời:

- Tôi sẽ mang tới khách sạn tặng các bạn một chiếc khóa thật lớn.

- Chị chu đáo quá!

- Tôi muốn được bày tỏ lòng mến phục tài năng của ông… Nếu Chúa trời cho tôi sức khỏe, tôi sẽ quay lại Việt Nam một lần nữa và sẽ lên Tây Nguyên, tới những bản làng - Thiên Đường đó, tôi cũng muốn, dù chỉ một lần trong đời, được tham gia lễ hội Ninh Nông. Tôi muốn được gột rửa cái tội lỗi mà mình đã phạm phải khi mới 18 tuổi đời… Nói đến đây, bà chợt ngừng lại, quỳ xuống sàn cầu, xoa xoa tay lên lớp đá lát đã mòn nhẵn vì bước chân của khách thập phương – máu của chàng thanh niên Đức đó đã đổ ra ướt đẫm những viên gạch này. Nữ du kích trẻ là tôi lúc đó, đã bắn lén từ phía sau lưng và anh ta ngã sấp mặt vào chiếc giá vẽ. Bức tranh “Hoàng hôn trên sông Seine” còn dở dang đã vấy đầy máu. Tôi còn chạy tới để xem anh ta đã chết chưa. Kẻ thù của nước Pháp kháng chiến lúc đó có một khuôn mặt quá ngây thơ và non nớt. Đôi mắt xanh màu da trời của anh ta vẫn còn mở to, như vẫn còn ngưng đọng vẻ thán phục đến si mê trước vẻ đẹp của chiều hoàng hôn cuối cùng của đời mình…

Ngừng một lát để lau đi những giọt nước mắt, Nữ thi sĩ nói tiếp, vẫn quỳ trên sàn cầu :

- Chiều hôm đó, khung cảnh thiên nhiên cũng như lúc này đây, vậy mà đã hơn nửa thế kỷ! Tôi cứ cảm tưởng như mới hôm qua vậy! Chính đôi mắt xanh như bầu trời kia cứ đeo đuổi tôi suốt gần cả cuộc đời và biến tôi thành một nhà thơ. Để rồi, những câu thơ, những tập thơ sau đó, không là gì khác ngoài những nỗi niềm ân hận, xót xa cho một hành động thời trẻ, một hành động được ca ngợi là anh hùng. Có thể, viên đạn của tôi đã giết chết một Van Gogh của nước Đức và cũng là của nhân loại…

Gió cuốn những chiếc lá khô lăn tròn trên thảm cỏ xanh mượt. Ba người chậm rãi nắm tay nhau tản bộ dọc kè đá bờ sông Seine. Bóng của họ đổ dài trên con đường đã chứng kiến bao cuộc gặp gỡ và chia ly. Đạo diễn Lâm Quang chợt dừng bước, lấy mũi giày đá mạnh một viên sỏi văng tõm xuống nước. Cả ba cùng đứng lại nhìn những vòng tròn sóng lan rộng trên mặt sông. Không ai nói với ai câu nào. Một chiếc thuyền du lịch màu trắng toát ầm ì rẽ nước chạy tới.

Paris ngập màu hoàng hôn như trong tranh của Claude Mone.

*

Đạo diễn Lâm Quang chợt thức giấc vì hình như nghe thấy tiếng động sột soạt trong phòng vệ sinh, có tiếng nước xối xả. Ông nghĩ là vợ nên lại nhắm mắt ngủ tiếp.

- Mấy giờ rồi? Ông cất tiếng hỏi trong trạng thái mơ màng.

Không có tiếng trả lời. Ông lại cất giọng hỏi một lần nữa, to hơn. Cũng chỉ có tiếng tích tắc của đồng hồ treo tường vọng lại. Ông vội nhỏm người dậy trên giường và nhìn sang chỗ vợ nằm. Bà Trúc Quỳnh vẫn ngủ say mê mệt sau một ngày đi dạo Paris đầy ấn tượng. Có kẻ trộm đột nhập! suy nghĩ đó như một luồng điện mạnh chạy vụt qua người khiến ông tỉnh hẳn. Ông hấp tấp bật chiếc đèn ngủ ở đầu giường. Ánh sáng khiến ông trở nên bình tĩnh hơn. Ông khẽ khàng đi chân đất về phía nhà vệ sinh và mở mạnh cửa. Chẳng có ai trong đó cả. Ông cúi người xuống đưa tay ấn thử nút giật nước và thấy lạnh cả gáy. Nước trong bồn đã cạn. Ông hấp tấp mở các cánh cửa tủ và cả cửa thông ra ban công – không hề có điều gì khác thường. Bên tai ông vẫn như nghe văng vẳng đâu đó tiếng tù và lẫn lộn với tiếng cồng chiêng lúc xa lúc gần, tiếng voi gầm mơ hồ xa xăm...

- Đúng là mình mơ ngủ! Ông thầm nghĩ.

Vừa lúc đó, đèn trong phòng khách chợt vụt sáng khiến ông thót tim.

- Ai ngoài đó đấy? Giọng ông như nghẹn lại vì khiếp sợ, hình dung một bóng người mặc đồ đen bịt mặt, tay cầm súng bước ra.

Không hề có tiếng đáp lại. Ông định lay gọi vợ dậy nhưng lại sợ bà ấy cười cho vì cái tính yếu bóng vía, thần hồn nát thần tính của mình. Ông bước sang phòng khách, đến ngưỡng cửa thì chợt đứng khựng lại như bị sét đánh vì nghe thấy tiếng vợ vừa kêu vừa thổn thức khóc lóc, ú ớ trong mơ: “Anh Nam ơi! Đợi em với, đừng bỏ em!”.

Đến lúc này thì đạo diễn Lâm Quang bủn rủn hết cả chân tay, lưng toát mồ hôi lạnh. Ông phải vịn tay vào bờ tường và ngồi phịch xuống chiếc ghế đi-văng ở gần đó. Tim đập thình thịch trong lồng ngực như trống trận.

- Lẽ nào, lại chính là anh ta hiện về? Ông buột miệng lẩm bẩm và chợt nhớ đến chuyện của nữ thi sĩ Pháp chiều hôm qua trên cầu Tình yêu. Hơn ba chục năm trước, vào mùa mưa ác liệt năm 1968, trong một cánh rừng heo hút trên đỉnh Ngok Linh của dãy Trường sơn, ông cũng phải đối diện với một đôi mắt đang hấp hối không thể nào quên nổi, đôi mắt của Nam, một nhà quay phim trẻ tài năng của Xưởng, người chồng sắp cưới của Trúc Quỳnh.

“Đúng là trong giấc mơ, bà ấy đã gặp lại anh ta. Điều này chứng tỏ mấy chục năm qua, sống với mình, ăn, ngủ, có con chung và làm việc cùng nhau, nhưng tâm tưởng bà ấy vẫn thuộc về anh ta. Thế mà mình vẫn lầm tưởng rằng tiền tài, danh vọng và tình yêu như nô lệ của mình đã chiếm được trái tim của bà ấy. Mình đã lầm” – Vừa nghĩ ông vừa đưa mắt nhìn bao quát toàn bộ căn phòng khách sạn sang trọng. Thành quả của cả cuộc đời theo đuổi điện ảnh đang được bày cả ra trước mắt. Trên chiếc bàn lớn kê giữa phòng khách là bức tượng bằng pha lê trong suốt giành cho bộ phim tư liệu đoạt giải vàng tại liên hoan Phim quốc tế Paris. Những lẵng hoa tươi sặc sỡ ngát hương, những đóa hồng khổng lồ của khán giả hâm mộ và các tổ chức quốc tế chúc mừng. Nhà phê bình điện ảnh Pháp nổi tiếng Marcel Martin đã vỗ vai ông nói rằng: “Giờ thì anh có thể hội nhập với điện ảnh thế giới được rồi”. Một thành quả nữa, có thể nói còn quan trọng và đáng giá hơn phần thưởng kia, là người phụ nữ đang nằm ngủ trên chiếc giường bên tay trái ông đây. Một minh tinh màn bạc, thần tượng của nhiều thế hệ thanh niên. Sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành của bà đã khiến ông mù quáng phạm tội ác. Một tội ác mà ông đinh ninh rằng không một ai biết được và nó sẽ theo ông xuống mồ. Tại chính thời điểm huy hoàng nhất của cuộc đời nghệ thuật, thời điểm mà ông đã đổ mồ hôi hàng chục năm lao động để có được, bằng cả tài năng cộng với mưu mô mánh khóe thì một câu nói vô thức từ cửa miệng vợ thốt ra trong giấc mơ đã khiến mọi cái sụp đổ. Phần thưởng mà bao người mong ước đó, giờ đây đối với ông trở nên vô nghĩa. Bởi vì, mục đích chính của đời ông không phải là giải thưởng danh giá. Ông chỉ muốn dùng nó để chinh phục trái tim của người phụ nữ đang nằm ngủ kia, muốn chứng minh với bà rằng mình giỏi hơn, tài năng hơn và xứng đáng hơn người chồng đầu tiên của bà, cũng là bạn đồng nghiệp ngấm ngầm ganh đua của ông thủa còn chập chững những bước đầu tiên trước ngôi đền Điện ảnh tráng lệ đầy sức hấp dẫn.

Ông gục đầu xuống ngực và từ trong cổ họng bật ra một âm thanh, không hiểu là tiếng nấc hay là tiếng gầm gừ uất hận vì cảm thấy mình ghen tỵ cả với người đã khuất.

*

Từ lúc thức dậy cho đến khi hai vợ chồng xuống tầng một của khách sạn ăn sáng, không ai nói với ai câu nào. Tự nhiên, giữa hai người như có một cái gì đó gượng gạo, nặng nề. Trong phòng ăn, một số người nhận ra ông qua buổi truyền hình lễ trao giải của liên hoan phim trong chương trình Le Temps đêm hôm qua, đã đến tận bàn ăn bắt tay chúc mừng và vồn vã bày tỏ cảm tưởng.

- Bà tận mắt chứng kiến nhé, mình là dân của một nước nhược tiểu mà làm cho Tây phải kính nể, thật không dễ chút nào, nhất là trong lĩnh vực nghệ thuật. Tôi đã đánh chiếm được Paris và đặt dưới chân bà đó! – Đạo diễn Lâm Quang nói, không kìm giữ nổi vẻ thỏa mãn, hãnh diện cứ tràn ra cả các cơ trên mặt, rồi hùng dũng lấy dĩa xiên một lát phomát lớn và giơ lên trước mặt vợ - Bà ăn đi chứ, sao cứ ngồi thừ ra thế ? Không thích đồ ăn tây à?

Giọng nói kiểu gia trưởng thường có của chồng mỗi khi ở chỗ đông người và cung cách ăn uống bỗ bã khiến mặt bà hơi cau lại, khó chịu.

- Không, tôi thấy hơi nhức đầu, chắc hôm qua… giường lạ nên giấc ngủ… cứ mộng mị suốt. Ông ngủ được không?

- Bà còn lạ gì, tôi được cái tính nông dân, đặt lưng xuống là ngáy tít, chả còn phân biệt được trời tây hay trời ta nữa, chỉ đến khi bà nằm mơ… – Lâm Quang vừa nói vừa nhai nhồm nhoàm, nhưng cặp mắt một mí nhỏ và sắc của ông quan sát rất kỹ những biểu hiện trên khuôn mặt vợ. Ông rất muốn biết xem đêm qua vợ mơ thấy gì. Ông không tin, nhưng cũng không dám phủ nhận hiện tượng báo mộng.

- Đêm qua bà mơ gì mà kêu la to thế? Lâm Quang đột ngột hỏi và nhìn chăm chú vào mắt vợ.

- Ông cũng nghe thấy à? Bà Trúc Quỳnh hơi bối rối nhìn xuống đĩa của mình – Tôi không thể tin nổi... Đúng là ác mộng.

- Ối dào, chuyện mộng mị tin làm gì!

- Tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng cứ như ngoài đời thật vậy…

- Thôi, bà ăn nhanh đi! Chương trình hôm nay còn rất nhiều việc, bà văn sĩ chắc sắp đến bây giờ. Người đâu mà nhiệt tình thế!

Bà Trúc Quỳnh chợt ngẩng đầu lên và nhìn thẳng vào mặt chồng.

- Có lẽ … hôm nay tôi ở nhà thôi, ông cứ đi một mình...

- Sao lại như thế được? Hay đêm qua bà mơ thấy điềm gì không lành? Bà có biết rằng tất cả các phần thưởng vinh dự này, tôi làm chỉ vì bà không? Lâm Quang nói, giọng đột ngột trở nên cáu giận – Bà có nhận ra điều đó không hay cố tình làm ngơ? Chả nhẽ, giữa chỗ đông người này, chúng ta lại cãi cọ nhau thì còn ra thể thống gì . Bà có biết bao diễn viên trẻ đẹp, tài năng ghen tỵ với chuyến đi của bà lần này hay không?

Lâm Quang đặt mạnh chiếc tách sứ đang uống dở xuống bàn khiến nước cà phê nâu sẫm sánh cả ra khăn bàn trắng tinh có thêu những bông hồng nổi. Vết ố loang rộng ra bên cạnh bàn tay cục mịch với những ngón ngắn tun hủn, hơi run run của ông.

- Trong làng điện ảnh, không phải ai cũng dễ có được trải nghiệm những giây phút vinh quang như tôi với bà hôm trao giải. Cuộc đời con người ta, những giây phút đó chỉ diễn ra không quá một lần đâu, bà có hiểu không?

- Nhưng ông có biết, chính trong những giây phút đó, tôi nghĩ gì không? Bà Trúc Quỳnh bất ngờ hỏi lại, trong ánh mắt và giọng nói có một cái gì đó khác thường.

Đạo điễn Lâm Quang hơi chột dạ và im bặt.

- Trên bục danh dự, đáng lẽ còn phải có một người nữa... chắc ông cũng hiểu ý tôi muốn nói tới ai? Vậy mà ông không hề nhắc tới và hình như cũng không muốn nhắc tới con người đó. Mặc dù, ông đã sử dụng những thước phim vô giá đã thấm máu anh ấy, những thước phim mang lại cho ông giải thưởng quốc tế này...

Bà Trúc Quỳnh bật khóc, khiến mấy vị khách ngồi bàn bên cạnh quay cả lại nhìn chẳng hiểu chuyện gì.

- Tôi già rồi... nên cũng chả cần phải che dấu tình cảm thật của mình. Nhưng tôi không thể im lặng mãi được trước cái lối cư xử vô lương tâm ấy của ông...

Khuôn mặt của đạo diễn Lâm Quang trắng nhợt ra như chiếc khăn trải bàn.

Ông từ từ đứng lên với ánh mắt thất thần như thể bất ngờ chợt nhận ra người đang ngồi trước mặt ông đây, hàng chục năm nay vẫn đeo một chiếc mặt nạ và đóng một vai diễn với chính ông. Lâm Quang bất ngờ gạt mạnh tay một cái khiến cốc chén rơi vỡ tan tành trên nền nhà, rồi loạng choạng ôm lấy ngực bước về phía cửa trước bao cặp mắt nhìn theo kinh ngạc của những người đang ăn trong phòng…

Nữ thi sĩ Pháp xoay xoay chiếc ổ khóa trong ngón tay trỏ, mắt ngước lên phía cửa sổ căn phòng trên tầng 7 của khách sạn Majetic. Vẻ bồn chồn, bà hết nhìn đồng hồ lại đứng lên ngồi xuống chiếc ghế dài ở ngay cổng. Bỗng, từ ngoài đường vọng vào tiếng còi xe cấp cứu. Ngay sau đó, bà nhìn thấy chiếc đèn hiệu khẩn cấp màu xanh quay tít trên mui xe thấp thoáng sau rặng cây thông. Một thoáng lo lắng vụt qua tâm trí như mỗi khi nhìn thấy chiếc xe đó nổi còi chạy trên đường phố Paris. Chiếc xe vừa lùi đít vào cổng khách sạn thì bà trông thấy Trúc Quỳnh hớt hải từ trong tầng trệt chạy ra.

Chiếc ổ khóa tuột ra khỏi ngón tay của bà và rơi xuống nền đá lát đường, phát ra một tiếng “cạch” khô khốc.

*

Nghề văn có họ hàng ruột thịt với nghành khảo cổ. Từ một mẩu xương, tái tạo nên một con người. Từ bình gốm vỡ, trả lại cả một nền văn minh. Một truyện ngắn chào đời từ một câu nói vô tình và cả một cuốn tiểu thuyết được xây dựng từ mẩu tin tình cờ đọc được trong tờ báo gói đồ ăn sáng. Song, thực tế cuộc sống được phản ánh sinh động nhất và dễ làm rung động lòng người nhất lại thuộc về thể loại văn học hồi ký, nhất là những hồi ký không được công bố mà chỉ truyền tay nhau đọc. “Phim trường - Chốn bon chen khốc liệt” là dạng hồi ký như vậy của nữ diễn viên gạo cội Trúc Quỳnh

Chúng ta hãy cùng nhau lật giở những trang đánh máy lem nhem, quăn mép và đầy những dấu gạch chân hay dấu hỏi bên lề của bao người đã cầm cuốn hồi ký không bình thường này trong tay. Chương XXIII. Ai đó đã dùng bút bi đỏ khoanh tròn lại, chứng tỏ đây là một chương đáng được chú ý.

Paris. Thật khó diễn tả nổi những cảm xúc đầu tiên khi đặt chân tới thủ đô của nước Pháp. Một cái gì đó rung động, hồi hộp giống như đến với cuộc hò hẹn đầu tiên với anh ấy vậy. Nhưng có lẽ, hào quang của văn hóa Pháp qua bao thế kỷ là tác nhân chính tạo nên cảm giác này. Lúc máy bay hạ cánh xuống sân bay De Gaulle, không hiểu sao trong đầu tôi lại nảy ra một suy nghĩ “đáng lẽ, người ngồi bên cạnh tôi đây phải là anh Nam chứ không phải ông ấy”. Sao ông trời lại bất công đến như vậy? Kể cũng thật là khủng khiếp, không biết trong cuộc đời thật có người phụ nữ nào giống tôi không, hàng chục năm trời sống với một người mà trong đầu vẫn cứ vương vấn đến một người đàn ông khác. Có lẽ, đây mới là vai diễn khó khăn nhất, có thể gọi là vai “chung thân” trong nghiệp diễn đầy sóng gió của đời tôi. Rất nhiều nữ diễn viên trẻ ghen tỵ với vai trò “vợ đạo diễn”. Đúng là “ trẻ người non dạ” như chính bản thân tôi hơn bốn chục năm trước. Nhưng con người tôi đâu có đủ can đảm để bước ra khỏi cái vòng cám dỗ đó, mặc dù đã nhiều lần rắp tâm. Tôi chỉ có một lối thoát duy nhất – đó là chui hẳn đầu vào các vai diễn để quên đi thực tại. Đối với tôi, điện ảnh chính là Tôn giáo. Nó đem lại niềm vui sống, nghị lực. Nó an ủi và che chở, làm cho tôi lấy lại được cân bằng trong cuộc sống gia đình.

Thật không ngờ, chuyến đi Paris lần đầu tiên này lại là màn chót của vở diễn ngoài đời mà tôi thủ vai chính.

Không hiểu sao, tôi vẫn tiếc là trong chuyến đi này không kết hợp tổ chức được triển lãm những bức tranh vừa ký họa vừa sơn dầu của anh Nam về giai đoạn ác liệt nhất của cuộc chiến tranh sau Tết Mậu Thân năm 1968 tại Trị Thiên và Tây Nguyên. Anh ấy có một cái nhìn về chiến tranh không giống phần đông các nghệ sĩ khác trong Xưởng phim, chính vì thế mà cấp trên không ưa. Bằng con mắt của người họa sĩ, các thước phim anh quay về chiến tranh rất độc và lột tả được sự khốc liệt đến vô nghĩa của cuộc chiến. Tính tình anh lại quá thẳng, không ưa ai là anh bộc lộ ra mặt. Có người nói rằng những ai có vợ đẹp thường bị cấp trên trù úm. Sự ghen tỵ của những con đực trong bầy đàn. Anh Nam có ước mơ một ngày nào đó được đem tranh và phim của mình đến Paris để triển lãm. Ngày ấy đã đến, nhưng anh đã không còn. Tôi đã đặt vấn đề nhiều lần. Ông ta ngoài miệng thì làm ra vẻ tán thành, cổ vũ nhưng bên trong lại tìm cách ngăn cản, vin vào lý do tài chính không cho phép. Tôi thực sự ghê tởm con người ấy và cũng ghê tởm luôn cả chính mình vì đã lấy ông ta chỉ vì nghĩ đến con đường tiến thân của một diễn viên. Sắc đẹp có nhưng thân cô thế cô, từ một vùng quê nghèo lên Hà Nội lập thân. Nói chính xác là chân vẫn còn dính đầy bèo tấm, tóc còn lẫn cả bụi trấu và nghe điện thoại báo giờ tự động vẫn cảm ơn rối rít.

Câu chuyện của nữ thi sĩ Pháp Marielle trên cầu Tình yêu bắc qua sông Seine khiến tôi xúc động. Đúng là nghệ sĩ lớn, họ đứng trên cả các tham vọng chính trị tầm thường và hướng tới những giá trị vĩnh cửu. Trên đường trở về khách sạn, tôi cứ bị ấn tượng của câu chuyện và liên tưởng tới cái chết của anh Nam. Một cái chết mà ngay từ giây phút nhận được tin đầu tiên, tôi đã linh cảm có một cái gì đấy oan nghiệt. Tôi chỉ linh cảm được thôi, khi chứng kiến cảnh ông ấy, sau chuyến đi công tác Tây Nguyên trở ra, đặt lên trên bàn trong phòng cán bộ của Xưởng phim mấy thứ đồ dùng tùy thân còn lại của anh: chiếc bi đông nước, khăn quàng do tôi mua tặng, chiếc ba lô bị thủng mấy chỗ do mảnh bom và cuốn tiểu thuyết Phục Sinh của Tolstoy bị cháy nham nhở. Quan trọng nhất là chiếc máy quay phim của anh mà bây giờ vẫn còn được lưu giữ trong phòng bảo tàng của ngành Điện ảnh. Lúc đó, tôi đã ngã ra và bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, đầu tiên là tôi thấy khuôn mặt ông ấy đang nhìn xuống. Đôi mắt của ông ta lúc đó, trong một khoảnh khắc, tràn đầy niềm vui sướng kiêu hãnh như của một con thú trong mùa sinh sản sau khi đã hạ gục được tình địch. Phải hàng chục năm sau tôi mới tình cờ hiểu được ánh mắt của ông ta lúc đó, trong một cơn mơ, ông đã thốt ra những câu: “Mày nằm lại đây thôi, đằng nào cũng chết!”. Tôi bỗng nảy ra nghi ngờ cái kịch bản mà ông ấy bày đặt để báo cáo với Ban giám đốc Xưởng phim về chuyến công tác Tây Nguyên mùa mưa năm 1968. Thật kinh khủng! Chưa một vai diễn nào trước đó của tôi sánh được. Nhiều lần, trong đầu tôi đã mơ hồ nảy ra ý định và kế hoạch giết ông ta để trả thù cho một tội ác không có bằng chứng. Nhưng đứa con chung với ông ấy đã chặn bạn tay tôi lại. Nhưng rồi, chính tại Paris, cái ý định giết chồng của tôi đã trở thành hiện thực. Nó xảy ra quá nhanh ngoài sức tưởng tượng. Đêm hôm đó, trong khách sạn Majetic tôi đã nằm mơ thấy anh, hay nói đúng hơn như được xem một cuốn phim quay chậm về cái chết của anh. Tôi không biết lý giải việc này như thế nào, đó là kết quả của hàng chục năm ám ảnh, dằn vặt, trăn trở vì xác anh mất tích hay thực sự có một mối liên hệ nào đó giữa hai thế giới Âm và Dương?

Vừa chợp mắt, tôi bỗng nghe thấy tiếng cồng tiếng chiêng, rồi hiện lên cảnh những bản làng người dân tộc trong một ngày hội, rồi có tiếng máy bay gầm rú, những cột khói đen sì bốc cao, lửa cháy khắp nơi, những thân hình trần truồng chạy toán loạn, tiếng gào khóc của một đứa trẻ đang ôm lấy bầu vú rỉ máu của một người đàn bà cụt đầu… Không hiểu sao lại xuất hiện hình ảnh bức tranh Guernica của danh họa Picaso đang bốc cháy, rồi những lò thiêu người ở Ôxvenxim... có tiếng thở hổn hển của ai đó như đang bị rượt đuổi… tiếng mưa trút tầm tã kèm theo cả sấm chớp, rồi… một tiếng súng đanh gọn và khô khốc vang lên. Những vòm cây xà nu quay tít. Bóng một người đàn ông đang ôm máy quay phim lảo đảo ngã vật xuống vũng đất lầy lội. Tôi bỗng nhận ra anh Nam qua chiếc khăn quàng mà tôi mua tặng anh hôm đi tiễn. Tôi gào lên khi thấy anh từ từ bay lên trời, về phía những đám mây trắng đang bồng bềnh trôi. Anh quay lại cười với tôi và giơ tay vẫy. Bỗng, ông ấy xuất hiện, trong tay cầm một khẩu súng ngắn nòng vẫn còn bốc khói. Ông ta tung khẩu súng lên cao và cất tiếng cười đắc thắng. Tôi chợt nhìn thấy đôi mắt của ông ấy chính là đôi mắt mà bốn chục năm trước đã nhìn xuống tôi khi tôi ngất đi trong Phòng cán bộ của Xưởng. Tôi chỉ thẳng vào mặt ông ta, hét lên “Ông là kẻ giết người!” và choàng tỉnh. Từ ngoài cửa sổ căn phòng ngủ của khách sạn, vọng vào tiếng chuông du dương của lễ cầu nguyện buổi sớm tại một nhà thờ ở gần đó…

*

Trong mục tin vặt của tờ Le Post ra chiều thứ bảy ở Paris có đăng một mẩu tin trên trang cuối: “Một số nhân chứng đã kể lại cho cảnh sát viên điều tra rằng bà già trước khi nhảy từ trên cầu Tình yêu xuống sông Seine tự tử còn kịp móc lên thành cầu một chiếc ổ khóa lớn có in hình hai trái tim hồng. Phải chăng, đây là Une femme Amoureuse?(*) một vụ tự tử vì tình như hàng trăm vụ vẫn diễn ra hàng ngày tại thủ đô? Việc xác minh danh tính của nạn nhân đang được tiến hành”...

Vũ Tuấn Hoàng

(*) Người đàn bà đang yêu

26/12/12

Tham dự Lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất nhà thơ Tố Hữu



Vũ Quốc Hùng

Theo lời mời của các anh Khánh Hoài, Khánh Châu, chiều 8/12 chúng tôi gồm 3 người Khánh, Đặng Nam, Quốc Hùng đã đến dự Lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Tố Hữu, tổ chức tại nhà Nhà lưu niệm Tố Hữu, Làng quốc tế Thăng Long, phường Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội. Ngay ngoài cổng đã thấy anh Khánh Hoài, Khánh Châu com lê cà vạt trang trọng, luôn tay bắt tay, tươi cười chào đón khách đến. Chọn chỗ ngồi và chúng tôi thấy Khánh Như ngồi ghế đằng trước. Sân khấu được bài trí với nền là bài thơ "Tạm biệt" nổi tiếng, bằng chính nét bút của tác giả:

Tạm biệt đời ta yêu quý nhất,
Còn mấy dòng thơ, một nắm tro.
Thơ gửi bạn đường, tro bón đất,
Sống là cho, Chết cũng là cho.

Bài thơ "Tạm biệt" làm nền cho sân khấu

Trong số đại biểu tới dự chúng tôi nhìn thấy có chú Hà Đăng (nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng biên tập Báo Nhân Dân), chú Đặng Phương Nam.

Sau khi buổi lễ bắt đầu, xen kẽ giữa những bài phát biểu của Giáo sư Hà Minh Đức, của nhà thơ Trần Đăng Khoa, của con gái nhà thơ – chị Thanh Hoa (vợ Khánh Châu) là phần trình diễn những bài thơ để đời của nhà thơ Tố Hữu như: Khi con tu hú, Việt Bắc, Kính gửi cụ Nguyễn Du. Người đọc thơ đọc thật hay, tôi nói: Chuẩn như trên đài ý nhỉ. Khánh bẹt trả lời: Ối giời ơi NSƯT Trọng Thủy đấy. Mình nghe thơ trên đài là giọng của tay này đấy. Trên sân khấu còn nhiều bài hát phổ thơ của Tố Hữu như "Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”, “Mưa rơi”... được các nghệ sỹ nổi tiếng trình bày đầy cảm xúc.

Trần Đăng Khoa, áo sáng màu, bước phía trước chú Hà Đăng

Là người rất gần gũi với nhà thơ Tố Hữu, nhà thơ Trần Đăng Khoa (TĐK) đã kể lại nhiều đối thoại giữa hai người, những lời bình thơ Tố Hữu của TĐK được hoan nghênh nhiệt liệt. Có chị ngồi trước chúng tôi, khi TĐK trích dẫn “Bến phà dào dạt bến nước Bình Tha” đã nói ngay: Sai rồi, “Bình Ca” chứ. Nhưng thế cũng đúng như TĐK nói “Tố Hữu là nhà thơ có nhiều tác phẩm còn sống tới ngày nay và được rộng rãi công chúng thuộc nhất”.

Tôi xin gửi kèm theo bản “tốc ký” bài nói của nhà thơ TĐK tại buổi lễ, mời các bạn chia sẻ.

VQH
_____

Bài nói chuyện của nhà thơ Trần Đăng Khoa
tại Lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất nhà thơ Tố Hữu

… Tôi đi đâu cũng đọc thơ Tố Hữu (TH) nhất là ở các vùng phía Bắc, ở đâu cũng thấy thơ TH hiện hình, về Thái Nguyên:

Suối ngàn xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn.

Về Việt Bắc, thấy một ánh trăng nhô lên đồi thôi:

Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương.

Rồi qua một bến phà:

Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát
Bến phà dào dạt bến nước Bình Ca.

Tôi đã đến Bình Ca đó rồi, nó bé lắm, nhưng đúng là nước nó dào dạt, nó mát mát. Có thể nói ở đâu trên các tuyến phía Bắc về qua những con đèo lại thấy:

Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế
Gió qua rừng Đèo Khế gió sang...

TH là người có biệt tài, có thể nói là vô địch, đưa các địa danh vào thơ. Tôi rất tâm đắc khi có người nói TH là nhà sử học ghi chép lịch sử bằng thơ, cứ mở thơ ông ra là thấy, ta thấy những bước thăng trầm lịch sử nước nhà. Chiến dịch Điện Biên bao nhiêu ngày? Xin thưa:

Năm mươi sáu ngày đêm
Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt.

Chiến dịch mở vào ngày nào? Xin thưa là bắt đầu vào mùa mưa:

Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn!

Hoặc nhân dân tiếp vận bằng gì? – Đấy là thồ, gánh:

Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô anh hò chị hát.

Hay là về người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi (NVT) chẳng hạn. Gần đây tôi có đến xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam quê hương NVT, tôi hỏi mà nhiều người không biết NVT, thấy buồn vô cùng. TH đã ghi lại toàn bộ 9 phút lịch sử NVT ra pháp trường như thế nào, ông có tài đưa cả khẩu hiệu vào thơ, ví dụ:

Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!

Đó là 3 câu khẩu hiệu người anh hùng NVT đã hô trên pháp trường, nhưng ngay sau 3 câu khẩu hiệu đó TH đã hạ bút 1 câu thơ tài tình vô cùng:

Phút giây thiêng Anh gọi Bác 3 lần!

Chỉ một chữ “gọi” thôi mấy câu khẩu hiệu kia không còn là khẩu hiệu nữa, mà ta ứa nước mắt về giây phút cuối của NVT.

TH là nhà thơ rất bản sắc. Nói khen ông thì thấy buồn cười, thừa thãi, nhưng cứ đi vào các đề tài cụ thể ta thấy ngay. Ví dụ viết về Huế, đúng Huế luôn. Mặc dù có những nhà thơ, có cả những tập thơ về Huế: “Huế đẹp và thơ”, nhưng xin hỏi thơ nào đặc trưng Huế nhất? Xin thưa với các bác không ai hơn TH:

Mây núi hiu hiu chiều lẳng lặng
Mưa nguồn gió biển nắng xa khơi.

Huế vô cùng!

Anh Nguyễn Trọng Tạo có 2 câu thơ rất hay:

Sông Hương hóa rượu ta đến uống
Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say.

Rất hay, nhưng thưa với các bác đấy là câu thơ hay viết về rượu chứ không phải viết về Huế. TH còn có 2 câu hay nữa:

Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên.

Hay vô cùng, tài vô cùng, nhuần nhuyễn vô cùng. Mà mưa là m m, xối xả là x x, trắng trời là tr tr, Thừa Thiên là th th.

Ngay sau khi ông mô tả về trận Điện Biên Phủ, ông kết bằng 2 câu thơ:

Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng.

Các bác có thấy không, hoàn toàn là mầu sắc: hồng, lam, trắng, cam, vàng, như là một vòng hoa nhiều màu, mà đây là các địa danh đấy chứ.

Hay là đơn cử về tù thôi, chúng ta có rất nhiều nhà thơ viết về tù. Bác Hồ có mảng thơ đặc sắc viết về tù là Nhật ký trong tù, TH cũng có cả mảng thơ về tù gọi là Xiềng xích. Ông bảo tôi sau này có chọn thì chọn Con cá chột nưa. Nhưng không phải, theo tôi có 3 bài đặc sắc nhất, cao thủ nhất, không phải “Con cá chột nưa” đâu, là bài Nhớ đồng, Tiếng hát đi đầy và Khi con tu hú. Bài Khi con tu hú viết về tù mà lại chả có một chữ tù nào.

Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không...

Đó là những khoảnh khắc hiện lên trong tâm trí người tù, hiện lên bắt đầu từ tiếng kêu của con tu hú. Người tù trong tù không nhìn thấy, chỉ nghe thôi:

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không...

Âm thanh diều sáo lọt vào trong tù, đánh thức người tù dậy:

Ta nghe hè dậy trong lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi.

Ta thấy sự sôi sục của người tù, báo hiệu cho những chuyển mình mạnh mẽ.
Trong một bài thơ rất hay là bài Tiếng hát đi đầy có câu: “quấn áo chen chân” nhưng ta ghi nhầm là “quần áo chen chân”. Bác Xuân Diệu cũng nhiều lần bình về bài thơ này nhưng ông cứ băn khoăn tại sao lại “quần áo chen chân”. Gần đây khi chúng ta kỷ niệm nhà thơ TH do Ban Tuyên giáo TW, Ban Tổ chức TW tổ chức, anh Vũ Quần Phương cũng có nói, quần áo có chân đâu mà chen cái chân. Tôi xin thưa đấy là “quấn áo chen chân”. Bác Xuân Diệu đã phát hiện đấy là cái áo, đúng ra là cái áo của người tù, áo người tù không mặc được. Theo lời kể của Tổng Bí thư Lê Duẩn, các đồng chí lên pháp trường có manh áo là để lại cho bạn tù, thậm chí miếng cơm cuối cùng của đời mình trước khi lên máy chém cũng để lại cho người sau ăn để có sức chiến đấu, mình ra pháp trường với tấm thân không:

Chết còn trút áo cho nhau
Miếng cơm dành để người sau ấm lòng.

Tấm áo ấy không mặc được mà phải quấn vào người, quấn áo chen chân là như vậy.
Có thể nói TH là nhà lịch sử bằng tranh, chép sử bằng thơ. Ông có nói với tôi như thế này: Bác Hồ mất vào ngày 2/9, nhưng ta không thể công bố lúc bấy giờ do hoàn cảnh. Nhưng mình là nhà thơ phải cho mọi người dân được biết sự thật, nhưng mình nói như thế nào? Sau khi Bác mất TH hạ một câu:

Trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn.

Thế là biết Bác mất 2/9 rồi!

Xin thưa với các bác là TH còn là nhà thơ đi trước thời đại, đặt tên TP HCM ai là người đầu tiên? Đó là TH, bởi vì ngay từ 1954 ông đã gọi Sài Gòn là TP HCM rồi:

Ai vô thành phố
Hồ Chí Minh
Rực rỡ tên vàng.

Và 18 năm sau, mùa hè 1972 Chế Lan Viên nhắc lại ý này:

Một Thế hệ Hồ Chí Minh, ấy là lực lượng
Một Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là phương hướng
Một Thành phố Hồ Chí Minh, là đích phía chân trời…

Ba câu thơ Chế Lan Viên có thể xem như kim chỉ nam cho Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Rồi mãi đến năm 1976 chúng ta mới đặt tên TP HCM.

Hay là TH cũng là người hy sinh rất nhiều. Ví dụ bài Ta đi tới có 2 câu:

Sông Thao sóng đỏ bồi hồi
Ai về Hà Nội thì xuôi cùng thuyền.

Nguyên bản ông viết như thế, nhưng hồi đó Bác Hồ có nói: Này chú ơi, sao ngày giải phóng lại buồn thế, sao lại “bồi hồi”? TH nói: thôi mình cũng làm để Cụ vui:

Sông Thao nao nức sóng dồi
Ai về Hà Nội thì xuôi cùng thuyền.

TH đã tâm sự với tôi về điều đó, và có nói: sau này có khi chú cứ khôi phục lại rồi thêm một đoạn ghi chú là ý Bác Hồ như thế nào để cho thế hệ sau này biết là Bác cũng đúng mà TH cũng đúng. Vì sau chiến chiến thắng có nhiều điều ngùi ngẫm lắm, bao đồng đội nằm lại trên đường, bao nhiêu nhân dân đã hy sinh dọc đường nên “bồi hồi” là đúng.

TH như là nhà sử học, nhà chép sử bằng thơ, người thư ký của thời đại. Có thể sau này cũng như các nhà thơ khác, nhiều bài thơ sẽ bị thời gian quên lãng, nhưng những gì còn lại của ông – một trong những nhà thơ còn lại thơ nhiều nhất, những vần thơ của ông vẫn còn đồng hành cùng dân tộc.

Ngày 8/12/2012
Tại Làng quốc tế Thăng Long, Cầu Giấy, Hà Nội